Vũ Cao – Wikipedia tiếng Việt

Vũ Cao (18 tháng 2 năm 1922 – 3 tháng 12 năm 2007) [1] là một nhà thơ Việt Nam.

Vũ Cao tên thật là Vũ Hữu Chỉnh quê ở xã Liên Minh huyện Huyện Vụ Bản tỉnh Tỉnh Nam Định. Ông sinh trong một mái ấm gia đình nho học và hoạt động giải trí văn học khá sớm, những năm đầu Chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất ( kháng chiến chống Pháp ) ông làm báo Chiến sĩ ở Liên khu IV rồi làm phóng viên báo chí báo Vệ quốc quân, Báo Quân đội nhân dân. Từ năm 1957, ông thao tác tại tạp chí Văn nghệ quân đội và trở thành chủ nhiệm trong nhiều năm. Từ Sau năm 1975 ông giải ngũ, làm giám đốc Nhà xuất bản TP.HN, phó chủ tịch Hội Văn học nghệ thuật và thẩm mỹ TP.HN, quản trị Hội đồng thơ Hội Nhà văn Nước Ta. Sau khi nghỉ hưu ông sống ở TP. Hà Nội. Ông là anh ruột của những nhà văn Vũ Tú Nam, Vũ Ngọc Bình. Tuy được biết đến như thể một nhà thơ với bài thơ Núi Đôi nổi tiếng đã được đưa vào sách giáo khoa của Nước Ta nhưng Vũ Cao còn sáng tác văn xuôi. Ông mất năm 2007 tại TP. Hà Nội .Vũ Cao được Tặng Kèm Trao Giải Nhà nước về Văn học thẩm mỹ và nghệ thuật năm 2001 .

Tác phẩm chính[sửa|sửa mã nguồn]

  • Sớm nay (Thơ năm 1962)
  • Đèo trúc (Thơ năm 1973)
  • Núi Đôi (Thơ năm 1956)
  • Truyện một người bị bắt (Tập truyện ngắn năm 1958)
  • Những người cùng làng (Tập truyện năm 1959)
  • Em bé bên bờ sông Lai vu (Truyện năm 1960)
  • Anh em anh chàng Lược (Truyện 1965)
  • Từ một trận địa (Năm 1973)

Bài thơ Núi Đôi[sửa|sửa mã nguồn]

Bài thơ Núi Đôi được Vũ Cao sáng tác dựa trên một câu chuyên có thật. Người con gái trong bài thơ là Trần Thị Bắc một nữ du kích Việt Minh quê ở xóm Chùa, thôn Xuân Đoài – Đoài Đông xã Phù Linh, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội. Làng Xuân Đoài trước kia là thôn Đoài (thôn phía tây) của làng Xuân Dục. Sau này làng tách ra, người trong vùng quen gọi là thôn Xuân Đoài. Lời thơ kể về một chuyện tình yêu lãng mạn và bi tráng của cô du kích và anh bộ đội Trịnh Khanh cùng quê.

Năm 1956, ông Vũ Cao có thời gian công tác ở sư đoàn 312, đóng quân tại huyện Sóc Sơn, bên cạnh núi Đôi. Khi sáng tác, ông chưa từng gặp người lính trong câu chuyện, cũng không biết cô du kích ở núi Đôi đã kết hôn với người lính. Đám cưới của họ diễn ra ở vùng tự do, gia đình lại phải giấu kín vì chiến tranh. Sau 20 năm kể từ khi bài thơ được viết, tác giả Vũ Cao mới gặp người chiến sĩ trong chuyện thơ của mình. Ông từng bộc bạch không hiểu sao lại có sự đồng cảm với người lính Trịnh Khanh đến vậy.

Liệt sĩ Trần Thị Bắc đi kháng chiến, được cử học lớp y tá ở xã Bắc Sơn, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội rồi quen anh bộ đội Trịnh Khanh cùng quê. Tình yêu bùng cháy, họ ước hẹn sau khi chiến thắng trận Bắc Hồng (huyện Đông Anh, Hà Nội) sẽ cưới nhau.

Trần Thị Bắc về quê được giao trách nhiệm làm quân bưu và địch vận. Đêm 21 tháng 3 năm 1954, chị Bắc được giao trách nhiệm đưa đoàn cán bộ ra vùng tự do để sẵn sàng chuẩn bị trận đánh lớn. Qua núi Đôi, đến ngòi Đầm Sen thì họ gặp phục kích. Chị hy sịnh Đồng đội đưa chị lên chôn dưới chân gò Cầu Cồn mà nay thuộc xã Tân Minh, huyện Sóc Sơn .Hòa bình lập lại, anh Trịnh Khanh mới về được quê nhà. Ở mặt trận, anh đã nhận được hai bức thư. Một bức thư của vợ kèm theo một chiếc đồng hồ đeo tay và một chiếc khăn len kỷ vật. Một bức thư khác là của mái ấm gia đình báo tin vợ anh đã hi sinhTừ con rể, anh Khanh trở thành anh cả trong mái ấm gia đình người vợ đã mất. Chính mẹ chị Bắc là người đã mai mối và hỏi vợ cho anh Khanh. Mọi người tin rằng đó cũng là ước nguyện của hương hồn chị Bắc, chị vẫn mong anh thanh thản tâm hồn và gắn bó với mái ấm gia đình mình … [ 2 ]

Liên kết ngoài[sửa|sửa mã nguồn]

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *