Microsoft Visual Studio – Wikipedia tiếng Việt

Microsoft Visual Studio là một môi trường phát triển tích hợp (IDE) từ Microsoft. Microsoft Visual Studio còn được gọi là “Trình soạn thảo mã nhiều người sử dụng nhất thế giới “, được dùng để lập trình C++ và C# là chính. Nó được sử dụng để phát triển chương trình máy tính cho Microsoft Windows, cũng như các trang web, các ứng dụng web và các dịch vụ web. Visual Studio sử dụng nền tảng phát triển phần mềm của Microsoft như Windows API, Windows Forms, Windows Presentation Foundation, Windows Store và Microsoft Silverlight. Nó có thể sản xuất cả hai ngôn ngữ máy và mã số quản lý.

Visual Studio gồm có một trình soạn thảo mã tương hỗ IntelliSense cũng như nâng cấp cải tiến mã nguồn. Trình gỡ lỗi tích hợp hoạt động giải trí cả về trình gỡ lỗi mức độ mã nguồn và gỡ lỗi mức độ máy. Công cụ tích hợp khác gồm có một mẫu phong cách thiết kế những hình thức kiến thiết xây dựng giao diện ứng dụng, phong cách thiết kế web, phong cách thiết kế lớp và phong cách thiết kế giản đồ cơ sở tài liệu. Nó gật đầu những plug-in nâng cao những công dụng ở hầu hết những cấp gồm có thêm tương hỗ cho những mạng lưới hệ thống quản trị phiên bản ( như Subversion ) và bổ trợ thêm bộ công cụ mới như chỉnh sửa và biên tập và phong cách thiết kế trực quan cho những miền ngôn từ đơn cử hoặc bộ công cụ dành cho những góc nhìn khác trong quá trình tăng trưởng ứng dụng .Visual Studio tương hỗ nhiều ngôn từ lập trình khác nhau và được cho phép trình chỉnh sửa và biên tập mã và gỡ lỗi để tương hỗ ( mức độ khác nhau ) phần nhiều mọi ngôn từ lập trình. Các ngôn từ tích hợp gồm có C, [ 4 ] C + + và C + + / CLI ( trải qua Visual C + + ), VB.NET ( trải qua Visual Basic. NET ), C # ( trải qua Visual C # ) và F # ( như của Visual Studio 2010 [ 5 ] ). Hỗ trợ cho những ngôn từ khác như J + + / J #, Python và Ruby trải qua dịch vụ setup riêng rẽ. Nó cũng tương hỗ XML / XSLT, HTML / XHTML, JavaScript và CSS .

Microsoft cung cấp phiên bản “Express” (đối với phiên bản Visual Studio 2013 trở về trước) và “Community” (đối với bản Visual Studio 2015 trở về sau) là phiên bản miễn phí của Visual Studio.[6]

Visual Studio không hỗ trợ cho bất kỳ ngôn ngữ lập trình nào về giải pháp hoặc công cụ thực chất, thay vào đó nó cho phép cắm chức năng được mã hóa như là một VSPackage. Khi cài đặt, các chức năng có sẵn như là một dịch vụ. IDE cung cấp ba dịch vụ: SVsSolution cung cấp khả năng liệt kê các dự án và các giải pháp; SVsUIShell cung cấp cửa sổ và giao diện người dùng và SVsShell. Ngoài ra, IDE cũng có trách nhiệm điều phối và cho phép truyền thông giữa các dịch vụ.[7] Tất cả các biên tập viên, nhà thiết kế, các loại dự án và các công cụ khác được thực hiện theo VSPackages. Visual Studio sử dụng COM để truy cập VSPackages. Visual Studio SDK cũng bao gồm Managed Package Framework (MPF) là một tập hợp quản lý bao bọc quanh các COM-interfaces cho phép các gói được viết bằng bất kỳ ngôn ngữ nào.[8] Tuy nhiên, MPF không cung cấp tất cả các chức năng bộc lộ trong Visual Studio COM-interfaces.[9] Các dịch vụ có thể được tiêu thụ để tạo ra các gói khác, để thêm chức năng cho Visual Studio IDE.

Hỗ trợ cho các ngôn ngữ lập trình được thêm vào bằng cách sử dụng một VSPackage đặc biệt được gọi là một dịch vụ ngôn ngữ. Một dịch vụ ngôn ngữ định nghĩa giao tiếp khác nhau mà việc thực hiện VSPackage có thể thực hiện để hỗ trợ thêm cho các chức năng khác nhau.[10] Các chức năng có thể được thêm vào theo cách này bao gồm cú pháp màu, hoàn thành báo cáo kết quả, kết hợp đôi, công cụ chú giải tham số thông tin, danh sách thành viên và đánh dấu lỗi trên nền biên dịch.[10] Nếu giao diện được thực hiện, các tính năng sẽ có sẵn ngôn ngữ. Dịch vụ ngôn ngữ sẽ được thực hiện trên cơ sở mỗi ngôn ngữ. Việc triển khai có thể tái sử dụng mã từ phân tích cú pháp hoặc trình biên dịch cho ngôn ngữ.[10] Dịch vụ ngôn ngữ có thể được triển khai hoặc trong mã nguồn gốc hoặc mã số quản lý. Đối với mã nguồn gốc, thì cả COM-interfaces gốc hoặc Babel Framework (một phần của Visual Studio SDK) đều có thể được sử dụng.[11] Đối với mã số quản lý thì các MPF sẽ bao hàm các dịch vu quản lý văn bản.[12]

Visual Studio không bao gồm bất kỳ Hệ thống quản lý phiên bản hỗ trợ kiểm soát mã nguồn nhưng nó xác định hai cách thay thế cho các hệ thống kiểm soát mã nguồn để tích hợp với IDE.[13] Một VSPackage kiểm soát mã nguồn có thể cung cấp giao diện người dùng tùy chỉnh của riêng mình. Ngược lại, một plugin kiểm soát mã nguồn bằng cách sử dụng MSSCCI (Microsoft Source Code Control Interface) cung cấp một tập các chức năng được sử dụng để thực hiện chức năng kiểm soát mã nguồn khác nhau, với một giao diện người dùng Visual Studio tiêu chuẩn.[14][15] MSSCCI lần đầu tiên được sử dụng để tích hợp Visual SourceSafe với Visual Studio 6.0 nhưng sau đó được mở ra thông qua Visual Studio SDK. Visual Studio.NET 2002 dùng MSSCCI 1.1, và Visual Studio.NET 2003 dùng MSSCCI 1.2. Visual Studio 2005, 2008 và 2010 dùng MSSCCI 1.3.[15]

Visual Studio hỗ trợ chạy nhiều cá thể của môi trường (tất cả đều có VSPackages riêng của mình). Những trường hợp sử dụng các registry hives khác nhau để lưu trữ trạng thái cấu hình và được phân biệt bởi AppID (Application ID). Các trường hợp được đưa ra bởi một AppId-specific.exe cụ thể mà lựa chọn AppID, thiết lập các hive gốc và khởi chạy IDE. VSPackages đăng ký một AppID được tích hợp với VSPackages khác cho AppID đó. Các phiên bản sản phẩm khác nhau của Visual Studio được tạo ra bằng cách sử dụng AppIds khác nhau. Các sản phẩm phiên bản Visual Studio Express được cài đặt với AppIds riêng nhưng với các sản phẩm Standard, Professional và Team Suite chia sẻ cùng AppID. Do đó, người ta có thể cài đặt các phiên bản Express song song với các phiên bản khác, không giống như các phiên bản khác cập nhật các cài đặt tương tự. Phiên bản Professional bao gồm các VSPackages khổng lồ trong phiên bản Standard và Team. Hệ thống AppID được thừa hưởng bởi Visual Studio Shell trong Visual Studio 2008.[16]

Biên tập mã[sửa|sửa mã nguồn]

Giống như bất kể IDE khác, nó gồm có một trình soạn thảo mã tương hỗ tô sáng cú pháp và triển khai xong mã bằng cách sử dụng IntelliSense không chỉ cho những biến, hàm và những giải pháp mà còn những cấu trúc ngôn từ như vòng tinh chỉnh và điều khiển hoặc truy vấn. [ 17 ] IntelliSense được tương hỗ kèm theo cho những ngôn từ như XML, Cascading Style Sheets và JavaScript khi tăng trưởng những trang web và những ứng dụng web. [ 18 ] [ 19 ] Các đề xuất kiến nghị tự động hóa hoàn hảo được Open trong một hộp list phủ lên trên đỉnh của trình chỉnh sửa và biên tập mã. Trong Visual Studio 2008 trở đi, nó hoàn toàn có thể được trong thời điểm tạm thời bán trong suốt để xem mã che khuất bởi nó. [ 17 ] Các trình chỉnh sửa và biên tập mã được sử dụng cho toàn bộ những ngôn từ được tương hỗ .Các trình chỉnh sửa và biên tập mã Visual Studio cũng tương hỗ setup dấu trang trong mã để điều hướng nhanh gọn. Hỗ trợ điều hướng khác gồm có thu hẹp những khối mã lệnh và tìm kiếm ngày càng tăng, ngoài việc tìm kiếm văn bản thường thì và tìm kiếm Biểu thức chính quy. [ 20 ] Các trình chỉnh sửa và biên tập mã cũng gồm có một bìa kẹp đa mục và một list việc làm. [ 20 ] Các trình chỉnh sửa và biên tập mã tương hỗ lưu lại những đoạn mã được lặp đi lặp lại nhằm mục đích để chèn vào mã nguồn sử dụng về sau. Một công cụ quản trị cho đoạn mã được kiến thiết xây dựng là tốt. Những công cụ này nổi lên như những hành lang cửa số trôi nổi hoàn toàn có thể được thiết lập để tự động hóa ẩn khi không sử dụng hoặc neo đậu đến những cạnh của màn hình hiển thị. Các trình chỉnh sửa và biên tập mã Visual Studio cũng tương hỗ nâng cấp cải tiến mã nguồn gồm có tham số sắp xếp lại, biến và chiêu thức đổi tên, khai thác và đóng gói giao diện những lớp thành viên bên trong những trạng thái giữa những thứ khác .Visual Studio có tính năng biên dịch nền ( còn gọi là biên dịch ngày càng tăng ). [ 21 ] [ 22 ] Như mã đang được viết, Visual Studio biên dịch nó trong nền để cung ứng thông tin phản hồi về cú pháp và biên dịch lỗi, được lưu lại bằng một gạch dưới gợn sóng màu đỏ. Biên dịch nền không tạo ra mã thực thi, vì nó yên cầu một trình biên dịch khác hơn là để sử dụng tạo ra mã thực thi. [ 23 ] Biên dịch nền khởi đầu được ra mắt với Microsoft Visual Basic nhưng giờ đây đã được lan rộng ra cho tổng thể những ngôn từ. [ 22 ]

Trình gỡ lỗi[sửa|sửa mã nguồn]

Visual Studio có một trình gỡ lỗi hoạt động vừa là một trình gỡ lỗi cấp mã nguồn và là một trình gỡ lỗi cấp máy. Nó hoạt động với cả hai mã quản lý cũng như ngôn ngữ máy và có thể được sử dụng để gỡ lỗi các ứng dụng được viết bằng các ngôn ngữ được hỗ trợ bởi Visual Studio. Ngoài ra, nó cũng có thể đính kèm theo quy trình hoạt động và theo dõi và gỡ lỗi những quy trình.[24] Nếu mã nguồn cho quá trình hoạt động có sẵn, nó sẽ hiển thị các mã như nó đang được chạy. Nếu mã nguồn không có sẵn, nó có thể hiển thị các tháo gỡ. Các Visual Studio debugger cũng có thể tạo bãi bộ nhớ cũng như tải chúng sau để gỡ lỗi.[25] Các chương trình đa luồng cao cấp cũng được hỗ trợ. Trình gỡ lỗi có thể được cấu hình sẽ được đưa ra khi một ứng dụng đang chạy ngoài Visual Studio bị treo môi trường.

Trình gỡ lỗi cho phép thiết lập các breakpoint (mà cho phép thực thi được tạm thời dừng lại tại một vị trí nhất định) và watch (trong đó giám sát các giá trị của biến là việc thực hiện tiến bộ).[26] Breakpoint có thể có điều kiện, nghĩa là chúng được kích hoạt khi điều kiện được đáp ứng. Mã có thể được biểu diễn, tức là chạy một dòng (của mã nguồn) tại một thời điểm.[27] Nó có hoặc là bước sang các chức năng để gỡ lỗi bên trong nó, hoặc là nhảy qua nó, tức là, việc thực hiện các chức năng không có sẵn để kiểm tra thủ công.[27] Trình gỡ lỗi hỗ trợ Edit and Continue, nghĩa là, nó cho phép mã được chỉnh sửa khi nó đang được sửa lỗi (chỉ có 32 bit, không được hỗ trợ trong 64 bit).[28] Khi gỡ lỗi, nếu con trỏ chuột di chuyển lên bất kỳ biến, giá trị hiện tại của nó được hiển thị trong phần chú giải (“chú thích dữ liệu”), nơi mà nó cũng có thể được thay đổi nếu muốn. Trong quá trình viết mã, các trình gỡ lỗi của Visual Studio cho phép một số chức năng được gọi ra bằng tay từ cửa sổ công cụ Immediate. Các thông số cho phương thức được cung cấp tại các cửa sổ Immediate.[29]

Các công cụ khác[sửa|sửa mã nguồn]

Khả năng lan rộng ra[sửa|sửa mã nguồn]

Visual Studio cho phép các nhà phát triển viết các phần mở rộng cho Visual Studio để mở rộng tính năng của nó. Những phần mở rộng “cắm vào” Visual Studio và mở rộng tính năng của nó. Các phần mở rộng đến ở dạng macro, add-incác gói. Các macro đại diện cho các nhiệm vụ lặp đi lặp lại và hành động mà các nhà phát triển có thể ghi lại theo chương trình để tiết kiệm, p231 các cài đặt. Các chế độ biệt lập của vỏ tạo ra một AppID mới, nơi các gói được cài đặt. Những thứ này được bắt đầu với một thực thi khác nhau. Nó nhằm mục đích cho sự phát triển của môi trường phát triển tùy chỉnh, hoặc cho một ngôn ngữ cụ thể hoặc một kịch bản cụ thể. Các chế độ tích hợp cài đặt các gói vào AppID của các phiên bản Professional / Standard / Team System, do đó các công cụ tích hợp vào các phiên bản.[16] Visual Studio Shell là miễn phí tải về.

Sau khi phát hành Visual Studio 2008, Microsoft đã tạo ra Visual Studio Gallery. Nó phục vụ như vị trí trung tâm cho đăng tải thông tin về phần mở rộng cho Visual Studio. Phát triển cộng đồng cũng như phát triển thương mại có thể tải lên thông tin về các phần mở rộng của họ đến Visual Studio.NET 2002 thông qua Visual Studio 2010. Người sử dụng trang web có thể đánh giá và xem lại các phần mở rộng để giúp đánh giá chất lượng các phần mở rộng được đăng. RSS feed thông báo cho người dùng trên bản cập nhật tới trang web và các tính năng gắn thẻ cũng được lên kế hoạch.[39]

Tên chính thức là Visual Studio 97. Vào năm 1997, Visual Studio ra mắt, tên mã là Boston (tên thành phố, Microsoft có thói quen đặt tên mã của Visual Studio theo tên địa danh).[40] Visual Studio 97 là sự kết hợp của nhiều công cụ lập trình với nhau. Visual Studio 97 xuất hiện trong hai phiên bản: Visual Studio Professional và Visual Studio Enterprise, phiên bản chuyên nghiệp chứa trên ba đĩa CD và phiên bản doanh nghiệp chứa trên bốn đĩa CD. Nó bao gồm Visual J++ 1.1 cho các lập trình viên Java, cũng như đi kèm với Visual InterDev để tạo ra các trang web được tạo tự động bằng Active Server Pages. Đi kèm các CD cài đặt là một CD chứa thư viện Mạng Microsoft Developer Network.

Visual Studio 97 là nỗ lực tiên phong của Microsoft trong việc sử dụng một thiên nhiên và môi trường tăng trưởng cho nhiều ngôn từ lập trình khác nhau. Visual J + +, InterDev, và Thư viện MSDN đã sử dụng cùng một ” thiên nhiên và môi trường “, gọi là Developer Studio. [ 41 ]Visual Studio cũng được bán dưới dạng những phiên bản con với những IDE riêng không liên quan gì đến nhau được sử dụng cho Visual C + +, Visual Basic và Visual FoxPro. [ 42 ]

Phiên bản kế tiếp có tên chính thức là Visual Studio 6.0, tên mã Aspen (khu nghỉ mát trượt tuyết ở Colorado), được phát hành vào tháng 6 năm 1998 và là phiên bản cuối cùng chạy trên nền Windows 9x.[43] Mỗi phiên bản của mỗi thành phần cũng được nâng lên thành v6.0, bao gồm Visual J++ trước đó là v1.1 và Visual InterDev tại lần phát hành đầu tiên. Phiên bản v6 của Microsoft là môi trường cốt lõi cho bốn phiên bản tiếp theo nhằm cung cấp cho các lập trình một nền tảng lập trình giống nhau. Điều này đã khiến Microsoft tập trung sự phát triển vào nền tảng độc lập .NET Framework.

Visual Studio 6.0 là phiên bản sau cuối gồm có Visual J + + mà Microsoft đã gỡ bỏ ( theo thỏa thuận hợp tác của Microsoft với Sun Microsystems, nhu yếu Microsoft Internet Explorer không tương hỗ cho máy ảo Java ). [ 44 ] [ 45 ]Visual Studio 6.0 có hai phiên bản : Chuyên nghiệp ( Professional ) và Doanh nghiệp ( Enterprise ). [ 46 ] Phiên bản Enterprise có thêm những tính năng bổ trợ so với bản Professional, gồm có :

  • Application Performance Explorer
  • Automation Manager
  • Microsoft Visual Modeler
  • RemAuto Connection Manager
  • Visual Studio Analyzer

Cũng như phiên bản trước, Visual Studio 6.0 cũng có những bản con với những IDE tăng trưởng riêng cho Visual C + +, Visual Basic và Visual FoxPro. [ 42 ]

Vào tháng 2 năm 2002, Microsoft đã phát hành Visual Studio.NET, có tên mã là Rainier (Mount Rainier của Washington). Phiên bản beta đã được phát hành thông qua MSDN vào năm 2001. Thay đổi lớn nhất là việc giới thiệu một môi trường phát triển mã được quản lý bằng.NET Framework. Các chương trình phát triển sử dụng.NET không được biên dịch thành ngôn ngữ máy (như C ++ chẳng hạn) mà thay vào đó là một định dạng gọi là Microsoft Intermediate Language (MSIL) hoặc Ngôn ngữ trung gian dùng chung (CIL). Khi một ứng dụng CIL được thực thi, nó được biên dịch vào ngôn ngữ máy phù hợp với nền tảng đang chạy, do đó mã nguồn có thể sử dụng cho nhiều nền tảng khác nhau. Các chương trình biên soạn vào CIL chỉ có thể được thực thi trên các nền tảng có cơ sở ngôn ngữ dùng chung. Có thể chạy các chương trình CIL trong Linux hoặc Mac OS X sử dụng các ứng dụng không phải Microsoft.NET như Mono và DotGNU.

Đây là phiên bản tiên phong của Visual Studio nhu yếu nền tảng Windows NT. Trình thiết lập thực thi nhu yếu này .Visual Studio. NET 2002 được luân chuyển theo bốn phiên bản : Học thuật ( Academic ), Chuyên gia ( Professional ), Nhà tăng trưởng Doanh nghiệp ( Enterprise Developer ) và Kiến trúc sư Doanh nghiệp ( Enterprise Architect ). Microsoft trình làng C # ( C-sharp ), một ngôn từ lập trình mới, hướng vào. NET. Họ cũng ra mắt sự thừa kế cho Visual J + + là Visual J #. Các chương trình Visual J # sử dụng cú pháp ngôn từ của Java. Tuy nhiên, không giống như những chương trình Visual J + +, chương trình Visual J # chỉ hoàn toàn có thể chạy trên. NET Framework chứ không phải Java Virtual Machine .
Vào tháng 4/2003, Visual Studio. NET 2003 ra đời, có tên mã là Everett. Ở bản này ,. NET Framework được tăng cấp lên phiên bản 1.1. Đây cũng là phiên bản Visual Studio tiên phong tương hỗ tăng trưởng những chương trình cho những thiết bị di động, sử dụng ASP.NET hoặc. NET Compact Framework. Các tiêu chuẩn tuân thủ của Visual C + + được cải tổ. Visual C + + Toolkit 2003 được bán kèm với Visual Studio. NET 2003 mà không có IDE. Tính đến năm 2010, bộ này không còn sống sót nữa và thay thế sửa chữa nó là Express Editions. Số phiên bản của Visual Studio. NET 2003 là phiên bản 7.1, số phiên bản định dạng tệp là 8.0. [ 47 ]Visual Studio. NET 2003 cũng được bán với bốn phiên bản : Học thuật, Chuyên gia, Nhà tăng trưởng Doanh nghiệp và Kiến trúc sư Doanh nghiệp. Phiên bản Visual Studio. NET 2003 Enterprise Architect gồm có việc tiến hành những công nghệ tiên tiến quy mô của Microsoft Visio 2002, gồm có những công cụ để tạo ra những miêu tả trực quan về giải pháp mô hình hoá cơ sở tài liệu logic .Microsoft phát hành Service Pack 1 vào ngày 13 tháng 9 năm 2006. [ 48 ] Visual Studio 2005 có tên mã Whidbey ( hòn đảo Whidbey ở Puget Sound ), được phát hành trực tuyến từ tháng 10 năm 2005. Kể từ phiên bản này Microsoft vô hiệu tên gọi “. NET ” ở tên mẫu sản phẩm ( cũng như mọi mẫu sản phẩm khác có. NET ), nhưng Visual Studio vẫn hầu hết nhắm tiềm năng vào. NET Framework ( lúc này đã được tăng cấp lên phiên bản 2.0 ). Đây là phiên bản mới nhất có sẵn cho Windows 2000 và cũng là phiên bản sau cuối để hoàn toàn có thể tăng trưởng ứng dụng C + + cho Windows 98, Windows Me và Windows NT 4.0. [ 49 ] [ 50 ]Số phiên bản nội bộ của Visual Studio 2005 là 8.0, và số phiên bản định của dạng tệp 9.0. Microsoft phát hành Service Pack 1 cho Visual Studio 2005 vào ngày 14 tháng 12 năm 2006. Ngày 3 tháng 6 năm 2007, họ cũng đã tung ra một bản update bổ trợ cho Service Pack 1 để cung cấp tính thích hợp với Windows Vista. [ 51 ]Visual Studio 2005 được tăng cấp để tương hỗ toàn bộ những tính năng mới được trình làng trong. NET Framework 2.0, gồm có generic và ASP.NET 2.0. Tính năng IntelliSense trong đã được bổ trợ. Visual Studio 2005 cũng đi kèm một sever web cục bộ, tách biệt với IIS, hoàn toàn có thể tàng trữ những ứng dụng ASP.NET trong quy trình tăng trưởng và thử nghiệm. Nó cũng tương hỗ những cơ sở tài liệu SQL Server 2005. C + + cũng có một tăng cấp tựa như với việc bổ trợ C + + / CLI, lúc đó dự án Bất Động Sản này dự kiến ​ ​ sẽ sửa chữa thay thế cho việc sử dụng Managed C + +. [ 52 ] Các tính năng mới khác của Visual Studio 2005 gồm có ” Deployment Designer ” được cho phép phong cách thiết kế ứng dụng được xác nhận hợp lệ trước khi tiến hành, thiên nhiên và môi trường được cải tổ cho xuất bản web khi phối hợp với ASP.NET 2.0 và được cho phép thử tải trang để nhìn nhận hiệu suất ứng dụng theo góc nhìn của những nhóm người dùng khác nhau. Bắt đầu với phiên bản năm 2005, Visual Studio khởi đầu tương hỗ tiến hành những chương trình 64 – bit. Tuy nhiên, bản thân IDE vẫn là một ứng dụng 32 – bit, Visual C + + 2005 tương hỗ biên dịch cho x86-64 ( AMD64 và Intel 64 ) cũng như IA-64 ( Itanium ). [ 53 ] Nền tảng SDK 64 – bit gồm có trình biên dịch 64 – bit và phiên bản 64 – bit của những thư viện .
Visual Studio 2008 và Visual Studio Team System 2008 có tên mã Orcas ( hòn đảo Orcas, cũng là một hòn hòn đảo ở Puget Sound ), mở màn phát hành cho những thuê bao MSDN vào ngày 19 tháng 11 năm 2007 cùng với. NET Framework 3.5. Mã nguồn cho Visual Studio 2008 IDE có sẵn dưới giấy phép nguồn san sẻ cho một số ít đối tác chiến lược của Microsoft. Microsoft phát hành gói dịch vụ 1 cho Visual Studio 2008 vào ngày 11 tháng 8 năm 2008. Số phiên bản nội bộ của Visual Studio 2008 là 9.0, số phiên bản định dạng tệp là 10.0. Visual Studio 2008 là phiên bản ở đầu cuối tương hỗ cho những ứng dụng C + + chạy trên Windows 2000. [ 54 ] [ 55 ] [ 56 ] [ 57 ]Visual Studio 2008 tập trung chuyên sâu vào việc tăng trưởng Windows Vista, mạng lưới hệ thống Office 2007 và những ứng dụng web. Đối với phong cách thiết kế trực quan, một trình soạn thảo hình ảnh Windows Presentation Foundation mới và một trình chỉnh sửa HTML / CSS mới cũng được bổ trợ. Phiên bản này không đi kèm J #. Visual Studio 2008 nhu yếu. NET Framework 3.5 và mặc định thông số kỹ thuật những assembly được biên dịch để chạy trên. NET Framework 3.5 nhưng nó cũng tương hỗ đa tiềm năng được cho phép những nhà tăng trưởng lựa chọn sẽ thao tác với phiên bản. NET Framework nào ( 2.0, 3.0, 3.5, Silverlight CoreCLR hoặc. NET Compact Framework ). Visual Studio 2008 cũng đi kèm với những công cụ nghiên cứu và phân tích mã mới. Với Visual C + +, Visual Studio bổ trợ thêm một phiên bản mới của Microsoft Foundation Classes ( MFC 9.0 ) bổ trợ tương hỗ cho những kiểu hình ảnh và tinh chỉnh và điều khiển UI được ra mắt với Windows Vista. [ 58 ]Đi kèm với Visual Studio 2008 còn có một bộ phong cách thiết kế dựa trên XAML ( tên mã là Cider ), workflow designer, LINQ to SQL, trình debugger XSLT, tương hỗ JavaScript Intellisense, tương hỗ debug JavaScript, và nhiều tính năng được tăng cấp khác. Phiên bản này đi kèm với bộ công cụ UI nâng cao, cả cho Windows Forms và WPF. Nó cũng gồm có một công cụ thiết kế xây dựng đa luồng ( MSBuild ) để biên dịch nhiều file nguồn ( cũng như thiết kế xây dựng file thực thi ) trong một dự án Bất Động Sản trên nhiều luồng đồng thời. Phiên bản này cũng tương hỗ việc biên soạn tài nguyên icon ở định dạng PNG, được trình làng trong Windows Vista. Một bộ phong cách thiết kế XML Schema được phát hành riêng sau đó. [ 59 ] Ban đầu được gọi là Visual Studio ” 14 “, Community Technology Preview ( CTP ) [ 60 ] được phát hành lần đầu vào ngày 3 tháng 6 năm năm trước và bản RC đã được phát hành vào ngày 29 tháng 4 năm năm ngoái. Sau đó, vào ngày 12 tháng 11 năm năm trước, Visual Studio năm ngoái chính thức được công bố là cái tên ở đầu cuối của phiên bản này. [ 61 ]Nhìn chung thì Visual Studio năm ngoái và những bản update của nó không đi kèm với tính năng mới, mà chỉ update những thành phần. Timeline việc update Visual Studio năm ngoái như sau :

  • Visual Studio 2015 RTM được phát hành vào ngày 20 tháng 7 năm 2015.[62]
  • Visual Studio 2015 Update 1 được phát hành vào ngày 30 tháng 11 năm 2015.[63]
  • Visual Studio 2015 Update 2 được phát hành vào ngày 30 tháng 3 năm 2016.[64]
  • Visual Studio 2015 Update 3 được phát hành vào ngày 27 tháng 6 năm 2016.[65]

Phiên bản xem trước tiên phong được phát hành vào ngày 30 tháng 3 năm năm nay với cái tên là Visual Studio ” 15 “. [ 66 ] Ngày 14 tháng 11 năm năm nay, Microsoft đăng một bài blog bật mý tên loại sản phẩm Visual Studio 2017 cùng với những tính năng sắp tới. [ 67 ] Sau đó, vào ngày 16 tháng 11 năm năm nay, ” Visual Studio 2017 ” đã được công bố là tên ở đầu cuối của mẫu sản phẩm và Visual Studio 2017 RC. [ 68 ] [ 69 ] Cuối cùng, vào ngày 7 tháng 3 năm 2017, Visual Studio 2017 RTM chính thức ra đời công chúng. Visual Studio 2017 tổng hợp những update của những bản preview, cũng như bổ trợ. Net Core và ASP.NET Core. Bản này cũng phân phối những tính năng mới như tương hỗ EditorConfig ( một khuôn khổ cho việc thực thi mã hóa ), tương hỗ NGen, công cụ. NET Core và Docker và Xamarin 4.3. Ở phiên bản này, XAML Editor và IntelliSense được nâng cấp cải tiến, unit test trực tiếp, gỡ lỗi nâng cao, và cải tổ tổng thể và toàn diện hiệu suất của IDE .Ngày 5 tháng 4 năm 2017, Visual Studio 2017 15.1 được phát hành, bổ trợ tương hỗ cho việc nhắm tiềm năng. NET Framework 4.7 .Ngày 10 tháng 5 năm 2017, Visual Studio 2017 15.2 được phát hành .Vào ngày 14 tháng 8 năm 2017, Visual Studio 2017 15.3 đã được phát hành, bổ trợ tương hỗ nhắm tiềm năng. NET Core 2.0. Bản update ( 15.3.1 ) đã được phát hành bốn ngày sau để xử lý một lỗ hổng Git với những tập tin con ( CVE 2017 – 1000117 ) .

Vào ngày 10 tháng 10 năm 2017, Visual Studio 15.4 được phát hành.[70]

Vào ngày 4 tháng 12 năm 2017, Visual Studio 15.5 được phát hành. Bản update này tập trung chuyên sâu cải tổ hiệu suất, update những tính thành phần của studio, cũng như tích hợp những bản sửa lỗi. [ 71 ]

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.