Hiệu quả Pareto – Wikipedia tiếng Việt

Hiệu quả Pareto hay còn gọi là tối ưu Pareto là một trong những lý thuyết trung tâm của kinh tế học với nhiều ứng dụng rộng rãi trong lý thuyết trò chơi, các ngành kỹ thuật, cũng như khoa học xã hội. Với 1 nhóm các cá nhân và nhiều cách phân bổ nguồn lực khác nhau cho mỗi cá nhân trong nhóm đó, việc chuyển từ một phân bổ này sang một phân bổ khác mà làm ít nhất một cá nhân có điều kiện tốt hơn nhưng không làm cho bất cứ một cá nhân nào khác có điều kiện xấu đi được gọi là một sự cải thiện Pareto hay một sự tối ưu hóa Pareto. Khi đạt được một phân bổ mà không còn cách nào khác để đạt thêm sự cải thiện Pareto, cách phân bổ đó được gọi là hiệu quả Pareto hoặc tối ưu Pareto.

Thuật ngữ này được đặt theo tên của Vilfredo Pareto, một nhà kinh tế tài chính học người Ý đã sử dụng khái niệm này trong những nghiên cứu và điều tra của ông về hiệu suất cao kinh tế tài chính và phân phối thu nhập .Nếu một mạng lưới hệ thống kinh tế tài chính đạt được hiệu suất cao Pareto, không một cá thể nào có đời sống tốt lên mà khiến một người khác có đời sống xấu đi. Nhìn chung, mọi người công nhận rằng cần tránh những thực trạng không đạt được hiệu suất cao Pareto, vì thế hiệu quả Pareto là một tiêu chuẩn quan trọng trong việc nhìn nhận những mạng lưới hệ thống kinh tế tài chính và những chủ trương chính trị .

Một cách cụ thể, người ta đã cho thấy rằng với những điều kiện được lý tưởng hóa nhất định, một hệ thống thị trường tự do sẽ dẫn đến việc đạt được hiệu quả Pareto. Điều này được đưa ra lần đầu tiên bởi hai nhà kinh tế học là Kenneth Arrow và Gerard Debreu, mặc dù kết quả của họ không phản ánh hoạt động của một nền kinh tế trên thực tế do các giả thuyết mang tính lý tưởng hóa (tất cả các hàng hóa đều có thị trường, thị trường cạnh tranh hoàn hảo, và chi phí giao dịch là không đáng kể). Kết quả của họ được gọi là định lý phúc lợi thứ nhất.

Một phân bổ tối ưu Pareto mạnh là một phân bổ mà một cá nhân đặc biệt mong muốn, đồng thời không có cách phân bổ nào cũng tốt như vậy cho tất cả mọi người. Một phân bổ tối ưu Pareto yếu là một phân bổ mà việc tái phân bổ lại là khả thi và được tất cả mọi người mong muốn.

Hạn chế chủ yếu của tối ưu Pareto là tính địa phương hóa của nó. Trong một hệ thống kinh tế với hàng triệu biến số, có thể có rất nhiều điểm tối ưu mang tính chất địa phương. Tiêu chí cải thiện Pareto không xác định được bất kỳ điểm tối ưu toàn cầu nào. Khi áp dụng một tiêu chí hợp lý, nhiều giải pháp đạt được tối ưu Pareto lại có kết quả kém xa so với một giải pháp toàn cầu.

Nhiều mạng lưới hệ thống đạt được hiệu suất cao Pareto nhưng không phải là mạng lưới hệ thống được mong ước. Chẳng hạn như một chế độ độc tài trong đó nhà độc tài trấn áp tổng thể mọi nguồn lực là một mạng lưới hệ thống đạt được hiệu suất cao Pareto vì bất kể việc tái phân phối nào cũng làm giảm phúc lợi của nhà độc tài .Một yếu tố nữa với hiệu suất cao Pareto là nó chỉ xem xét đến thu nhập và gia tài của cá thể mà không xem xét đến hội đồng, thiên nhiên và môi trường tự nhiên, cũng như tác động ảnh hưởng của một số ít tác nhân bên ngoài .

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *