Giải quyết Tranh chấp đất đai thừa kế – LegalZone

Trong số các Tranh chấp đất đai thì Tranh chấp đất đai thừa kế phát sinh rất phổ biến và đa dạng. Việc giải quyết Tranh chấp đất đai thừa kế được thực hiện theo quy định của pháp luật đất đai, pháp luật tố tụng dân sự và các văn bản hướng dẫn liên quan.

Xác định quyền sử dụng đất là di sản

Một trong những nhu yếu quan trọng nhất khi xử lý tranh chấp đất đai thừa kế là xác lập quyền sử dụng đất là di sản nhu yếu chia thừa kế. Theo đó, Khoản 1 Mục II Nghị quyết 02/2004 / NQ-HĐTP hướng dẫn việc xác lập di sản là quyền sử dụng đất như sau :

1.1.Đối với đất do người chết để lại (không phân biệt có tài sản hay không có tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất) mà người đó đã có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo Luật Đất đai năm 1987, Luật Đất đai năm 1993, Luật Đất đai năm 2003, Luật đất đai 2013 thì quyền sử dụng đất đó là di sản.

1.2. Đối với trường hợp đất do người chết để lại mà người đó có một trong các loại giấy quy định tại Luật Đất đai năm 2013, thì kể từ ngày 01/7/2004 quyền sử dụng đất đó cũng là di sản, không phụ thuộc vào thời điểm mở thừa kế.

1.3. Trường hợp người chết để lại quyền sử dụng đất mà đất đó không có một trong các loại giấy tờ được hướng dẫn tại Tiểu mục 1.1 và Tiểu mục 1.2 Mục 1 này nhưng có di sản là nhà ở, vật kiến trúc khác (như: nhà bếp, nhà tắm, nhà vệ sinh, giếng nước, nhà để ô tô, nhà thờ, tường xây làm hàng rào gắn với nhà ở, các công trình xây dựng trên đất được giao để sử dụng vào mục đích sản xuất, kinh doanh như nhà xưởng, kho tàng, hệ thống tưới, tiêu nước, chuồng trại chăn nuôi hay vật kiến trúc khác hoặc trên đất có các tài sản khác như cây lấy gỗ, cây lấy lá, cây ăn quả, cây công nghiệp hay các cây lâu năm khác) gắn liền với quyền sử dụng đất đó mà có yêu cầu chia di sản thừa kế, thì cần phân biệt các trường hợp sau:

a) Trong trường hợp đương sự có văn bản của Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền xác nhận việc sử dụng đất đó là hợp pháp, nhưng chưa kịp cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thì Toà án giải quyết yêu cầu chia di sản là tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất và quyền sử dụng đất đó.

b) Trong trường hợp đương sự không có văn bản của Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền xác nhận việc sử dụng đất đó là hợp pháp, nhưng có văn bản của Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền cho biết rõ là việc sử dụng đất đó không vi phạm quy hoạch và có thể được xem xét để giao quyền sử dụng đất, thì Toà án giải quyết yêu cầu chia di sản là tài sản gắn liền với quyền sử dụng đấtĐồng thời phải xác định ranh giới, tạm giao quyền sử dụng đất đó cho đương sự để Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền tiến hành các thủ tục giao quyền sử dụng đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho đương sự theo quy định của pháp luật về đất đai.

c) Trong trường hợp Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền có văn bản cho biết rõ việc sử dụng đất đó là không hợp pháp, di sản là tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất không được phép tồn tại trên đất đó, thì Toà án chỉ giải quyết tranh chấp về di sản là tài sản trên đất đó.

1.4. Trường hợp người chết để lại quyền sử dụng đất mà đất đó không có một trong các loại giấy tờ quy định tại tiểu mục 1.1, tiểu mục 1.2 mục 1 này và cũng không có di sản là tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất được hướng dẫn tại tiểu mục 1.3 mục 1 này, nếu có tranh chấp thì thuộc thẩm quyền giải quyết của Ủy ban nhân dân theo quy định của pháp luật về đất đai.

Thẩm quyền giải quyết Tranh chấp đất đai thừa kế

Theo hướng dẫn của Nghị quyết 02/2004 / NQ-HĐTP như nêu trên, tùy từng trường hợp mà thẩm quyền xử lý tranh chấp đất đai thừa kế sẽ thuộc về Ủy ban nhân dân hoặc Tòa án nhân dân có thẩm quyền .

Thẩm quyền của Tòa án nhân dân

Theo Khoản 5 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự năm ngoái thì “ Tranh chấp về thừa kế gia tài ” thuộc thẩm quyền xử lý của Tòa án nhân dân. Trường hợp Đối tượng tranh chấp là bất động sản thì chỉ Tòa án nơi có bất động sản có thẩm quyền xử lý theo Khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm ngoái .

Thẩm quyền của Ủy ban nhân dân

Trường hợp xử lý tranh chấp tại Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền thì việc xử lý tranh chấp đất đai được triển khai theo Khoản 3 Điều 203 Luật đất đai 2013 như sau :

a) Trường hợp tranh chấp giữa hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư với nhau thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện giải quyết; nếu không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc khởi kiện tại Tòa án nhân dân theo quy định của pháp luật về tố tụng hành chính;

b ) Trường hợp tranh chấp mà một bên tranh chấp là tổ chức triển khai, cơ sở tôn giáo, người Nước Ta định cư ở quốc tế, doanh nghiệp có vốn góp vốn đầu tư quốc tế thì quản trị Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xử lý ; nếu không chấp thuận đồng ý với quyết định hành động xử lý thì có quyền khiếu nại đến Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường hoặc khởi kiện tại Tòa án nhân dân theo lao lý của pháp lý về tố tụng hành chính .

Như vậy, để giải quyết Tranh chấp đất đai thừa kế thì sẽ căn cứ vào các quy định pháp luật liên quan như nêu trên.

Bạn vẫn còn thắc mắc, hay đang gặp rắc rối về đất đai, nhà ở, về Tranh chấp đất đai thừa kế? Hơn 20 luật sư nhà đất của LegalZone đang sẵn sàng hỗ trợ bạn. Liên hệ với LegalZone ngay.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.