Thương mại – Wikipedia tiếng Việt

Intérêts des nations de l’Europe, dévélopés relativement au commerce, 1766, 1766

Thương mại là hoạt động trao đổi của cải, hàng hóa, dịch vụ, kiến thức, tiền tệ v.v giữa hai hay nhiều đối tác, và có thể nhận lại một giá trị nào đó (bằng tiền thông qua giá cả) hay bằng hàng hóa, dịch vụ khác như trong hình thức thương mại hàng đổi hàng (barter). Trong quá trình này, người bán là người cung cấp của cải, hàng hóa, dịch vụ… cho người mua, đổi lại người mua sẽ phải trả cho người bán một giá trị tương đương nào đó.

Thị trường là cơ chế để thương mại hoạt động được. Dạng nguyên thủy của thương mại là hàng đổi hàng (barter), trong đó người ta trao đổi trực tiếp hàng hóa hay dịch vụ mà không cần thông qua các phương tiện thanh toán. Ví dụ, một người A đổi một con bò lấy 5 tấn thóc của người B chẳng hạn. Hình thức này còn tồn tại đến ngày nay do nhiều nguyên nhân (chẳng hạn do bên bán không tin tưởng vào tỷ giá hối đoái của đồng tiền sử dụng để thanh toán). Trong hình thức này không có sự phân biệt rõ ràng giữa người bán và người mua, do người bán mặt hàng A lại là người mua mặt hàng B đồng thời điểm.

Vì thế tiền được hình thành như một phương tiện trao đổi đa năng để đơn giản hóa thương mại. Nếu như trước kia tiền thường được liên kết với các phương tiện trao đổi hiện thực có giá trị ví dụ như đồng tiền bằng vàng thì tiền ngày nay thông thường là từ vật liệu mà chính nó không có giá trị (tiền giấy). Trong trao đổi quốc tế người ta gọi các loại tiền khác nhau là tiền tệ. Giá trị của tiền hình thành từ trị giá đối ứng mà tiền đại diện cho chúng. Ngày xưa vàng và bạc là các vật bảo đảm giá trị của tiền tại châu Âu. Ngày nay việc này không còn thông dụng nữa và tiền là tượng trưng cho giá trị của hàng hóa mà người ta có thể mua được. Chính vì thế mà khi đưa thêm tiền giấy hay tiền kim loại vào sử dụng thì tổng giá trị của tiền lưu thông trong một nền kinh tế không được nâng cao thêm mà chỉ dẫn đến lạm phát.

Thương mại sống sót vì nhiều nguyên do. Nguyên nhân cơ bản của nó là sự trình độ hóa và phân loại lao động, trong đó những nhóm người nhất định nào đó chỉ tập trung chuyên sâu vào việc sản xuất để đáp ứng những sản phẩm & hàng hóa hay dịch vụ thuộc về một nghành nghề dịch vụ nào đó để đổi lại sản phẩm & hàng hóa hay dịch vụ của những nhóm người khác. Thương mại cũng sống sót giữa những khu vực là do sự độc lạ giữa những khu vực này đem lại lợi thế so sánh hay lợi thế tuyệt đối trong quy trình sản xuất ra những sản phẩm & hàng hóa hay dịch vụ có tính thương mại hoặc do sự độc lạ trong những size của khu vực ( dân số ví dụ điển hình ) được cho phép thu được lợi thế trong sản xuất hàng loạt. Vì thế, thương mại theo những Ngân sách chi tiêu thị trường đem lại quyền lợi cho cả hai khu vực. ” Thuật ngữ Thương mại cần được diễn giải theo nghĩa rộng để bao quát những yếu tố phát sinh từ mọi quan hệ mang đặc thù thương mại dù có hay không có hợp đồng. Các quan hệ mang tính thương mại gồm có những thanh toán giao dịch sau đây : bất kể thanh toán giao dịch nào về thương mại nào về phân phối hoặc trao đổi sản phẩm & hàng hóa hoặc dịch vụ ; thỏa thuận hợp tác phân phối ; đại diện thay mặt hoặc đại lý thương mại, ủy thác hoa hồng ; cho thuê dài hạn ; thiết kế xây dựng những khu công trình ; tư vấn ; kỹ thuật khu công trình ; góp vốn đầu tư ; cấp vốn ; ngân hàng nhà nước ; bảo hiểm ; thỏa thuận hợp tác khai thác hoặc tô nhượng ; liên kết kinh doanh những hình thức khác về hợp tác công nghiệp hoặc kinh doanh thương mại ; chuyên chở sản phẩm & hàng hóa hay hành khách bằng đường thủy, đường không, đường tàu hoặc đường đi bộ. ”

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *