Tổ chức Sở hữu Trí tuệ Thế giới – Wikipedia tiếng Việt

Tổ chức Sở hữu Trí tuệ Thế giới
Organisation Mondiale de la Propriété Intelectuelle (OMPI)
World Intellectual Property Organization (WIPO)
Emblem of the United Nations.svgBiểu trưng
WIPO1.JPGTrụ sở tại Genève
Loại hình Cơ quan chuyên ngành
Tên gọi tắt WIPO
Lãnh đạo Tổng giám đốc WIPO

Francis Gurry,
ÚcAustralia
Hiện trạng Đang hoạt động
Thành lập 1967
Trang web www.wipo.int

Tổ chức Sở hữu Trí tuệ Thế giới (tiếng Anh: World Intellectual Property OrganizationWIPO; tiếng Pháp: Organisation mondiale de la propriété intellectuelle) là một trong những cơ quan chuyên môn của Liên Hợp Quốc, được thành lập vào năm 1967 có mục tiêu chính là “đẩy mạnh hoạt động trí tuệ sáng tạo và tạo điều kiện chuyển giao công nghệ liên quan đến sở hữu trí tuệ sang các nước đang phát triển nhằm mục tiêu đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế, xã hội và văn hoá” (điều 1 của Hiệp ước giữa UN và WIPO năm 1974) và phạm vi hoạt động là “khuyến khích sự sáng tạo của nhân loại và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ trên toàn thế giới[1].

WIPO hiện nay có 188 thành viên[2] và quản lý 23 hiệp ước quốc tế [3], đặt trụ sở chính tại Genève, Thụy Sĩ. Tổng giám đốc đương nhiệm là ông Francis Gurry.

Vatican và hầu hết những vương quốc thành viên Liên Hiệp Quốc đều tham gia vào WIPO. Những vương quốc và vùng chủ quyền lãnh thổ không tham gia WIPO gồm có : Kiribati, Quần đảo Marshall, Liên bang Micronesia, Nauru, Palau, Palestine, Cộng hòa Sahrawi, Quần đảo Solomon, Đài Loan, Đông Timor, Tuvalu và Vanuatu .
Tiền thân của WIPO là BIRPI được xây dựng vào năm 1893 để quản trị việc thực thi Công ước Berne về bảo lãnh những tác phẩm văn học và nghệ thuật và thẩm mỹ và Công ước Paris về bảo lãnh sở hữu công nghiệp .Công ước về xây dựng Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới chính thức đặt nền móng cho sự xây dựng của WIPO, có hiệu lực thực thi hiện hành từ ngày 26 tháng 4 năm 1970. Theo điều 3 của công ước, WIPO hướng tới mục tiêu thôi thúc việc bảo lãnh gia tài trí tuệ trên toàn thế giới. WIPO trở thành một cơ quan đặc trách của Liên hợp quốc từ năm 1974 .Không giống những cơ quan khác của Liên hợp quốc, WIPO có nguồn kinh tế tài chính riêng độc lập với sự góp phần của những vương quốc thành viên Liên hợp quốc. Năm 2006, hơn 90 % trong số tiền 250 triệu francs Thụy Sĩ [ 4 ] có được là nhờ vào tiền lệ phí ĐK và nộp hồ sơ cho Văn phòng chính của WIPO ( International Bureau ) địa thế căn cứ theo lao lý của Hiệp ước PCT về ĐK bằng bản quyền sáng tạo ( Patent Cooperation Treaty ), mạng lưới hệ thống Thỏa ước Madrid về ĐK thương hiệu quốc tế và mạng lưới hệ thống Thỏa ước Hague về ĐK mẫu mã công nghiệp .
Tổ chức WIPO giúp những cơ quan chính phủ, doanh nghiệp và xã hội nhận ra những quyền lợi của Sở hữu trí tuệ .

Họ cung cấp:

  • Một diễn đàn chính sách nhằm định hình các quy tắc sở hữu trí tuệ quốc tế cân bằng cho một thế giới đang thay đổi;
  • Các dịch vụ toàn cầu để bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ xuyên biên giới và giải quyết tranh chấp;
  • Hạ tầng kỹ thuật kết nối các hệ thống IP và chia sẻ tri thức;
  • Các chương trình hợp tác và nâng cao năng lực để cho phép tất cả các quốc gia sử dụng sở hữu trí tuệ để phát triển kinh tế, xã hội và văn hóa;
  • Nguồn tham khảo toàn cầu về thông tin sở hữu trí tuệ.

Giống như tất cả các diễn đàn đa chính phủ khác của Liên hợp quốc, WIPO không phải là một cơ quan dân cử. WIPO thường cố gắng đi đến các quyết định thông qua phương thức đồng thuận. Trong trường hợp phải bỏ phiếu, mỗi quốc gia thành viên của WIPO đều có một phiếu, bất kể dân số và sự đóng góp tài chính của quốc gia đó (cho WIPO) như thế nào. Điều này dẫn đến một hệ quả tất yếu liên quan đến chính sách về tài sản trí tuệ giữa các quốc gia ở Bắc và Nam bán cầu. Trong suốt những năm 60 và 70 của thế kỷ XX, các quốc gia đang phát triển có thể ngăn cản việc triển khai các hiệp định về sở hữu trí tuệ, điển hình như việc cấp bằng sáng chế dược phẩm trên phạm vi toàn cầu.

Trong những năm 1980, Hoa Kỳ và một số quốc gia phát triển đã chuyển vấn đề sở hữu trí tuệ ra khỏi khuôn khổ của WIPO và đưa vào chương trình nghị sự của GATT, và sau này là WTO, dẫn đến việc hình thành Hiệp định về các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền sở hữu trí tuệ (TRIPS).[ai nói?]

Hoạt động của WIPO chủ yếu dựa vào các ủy ban, bao gồm Ủy ban thường trực về cấp bằng sáng chế (Standing Committee on Patents (SCP)), Ủy ban thường trực về bản quyền và các quyền liên quan (Standing Committee on Copyright and Related Rights (SCCR)), Ủy ban cố vấn về thực thi pháp luật (Advisory Committee on Enforcement (ACE)), Ủy ban liên chính phủ về tiếp cận tài nguyên di truyền, kiến thức truyền thống và văn hóa dân gian (the Intergovernmental Committee (IGC) on Access to Genetic Resources, Traditional Knowledge and Folklore) và Nhóm công tác về cải cách Hiệp định hợp tác về bằng sáng chế.[ai nói?]

Tháng 10 năm 2004, WIPO đồng ý thông qua đề xuất của Argentina và Brazil về thiết lập một chương trình nghị sự phát triển cho WIPO – trên cơ sở của Tuyên bố Geneva về tương lai của Tổ chức Sở hữu Trí tuệ Thế giới [5]. Đề xuất này đã nhận được sự ủng hộ từ các nước đang phát triển. Một số cơ quan dân sự xã hội đã bắt đầu làm việc trên Dự thảo về tiếp cận kiến thức (Draft of Access to Knowledge – A2K).[6]

Trong lần trao đổi với tờ Bưu điện Washington vào năm 2003, Lois Boland đã nói rằng “phần mềm mã nguồn mở đang chống lại nhiệm vụ thúc đẩy quyền sở hữu trí tuệ của WIPO”. Ông cũng cho rằng, “để tổ chức một cuộc họp với mục đích là từ chối hoặc từ bỏ những quyền đó có lẽ sẽ đi ngược lại tôn chỉ của WIPO.[7]

Mạng lưới thông tin[sửa|sửa mã nguồn]

WIPO cũng đã thiết lập mạng thông tin toàn thế giới WIPOnet. Dự án này hướng tới việc link hơn 300 tổ chức về sở hữu trí tuệ ở toàn bộ cácc nước thành viên của WIPO. Bên cạnh việc cung ứng một cách thức trao đổi thông tin bảo đảm an toàn giữa những bên, WIPOnet cũng ghi lại bước đi tiên phong của WIPO trong nghành nghề dịch vụ dịch vụ về sở hữu trí tuệ. [ 8 ]

Liên kết nội[sửa|sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa|sửa mã nguồn]

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.