Mục đích của thương lượng tập thể là gì?

Quy định của pháp luật lao động về mục đích của thương lượng tập thể:

Theo quy định Điều 66 Bộ luật lao động 2012 về mục đích của thương lượng tập thể:

“ Thương lượng tập thể là việc tập thể lao động tranh luận, đàm phán với người sử dụng lao động nhằm mục đích mục tiêu sau đây :
1. Xây dựng quan hệ lao động hài hoà, không thay đổi và tân tiến ;

2. Xác lập các điều kiện lao động mới làm căn cứ để tiến hành ký kết thoả ước lao động tập thể;

3. Giải quyết những vướng mắc, khó khăn vất vả trong việc thực thi quyền và nghĩa vụ và trách nhiệm của mỗi bên trong quan hệ lao động. ”

Mục đích của thương lượng tập thể là gì?

Thương lượng tập thể

Bình luận về quy định mục đích của thương lượng tập thể:

Thương lượng tập thể là khái niệm thuộc phạm trù đối thoại xã hội, chỉ một hoạt động trung tâm của đối thoại xã hội, được thực hiện bởi hai đối tác chính là tập thể lao động và người sử dụng lao động hoặc tổ chức của họ. Đối thoại xã hội là quá trình trao đổi thông tin rộng rãi và áp dụng trong các lĩnh vực khác nhau, nhưng hạn chế phạm vi ở việc “xây dựng quan hệ lao động hài hoà, ổn định, tiến bộ”; “xác lập điều kiện lao động mới” để ký kết thoả ước lao động tập thể và xử lý các “vướng mắc, khó khăn” trong quan hệ lao động.

Điều 2 Công ước số 154 về thương lượng tập thể năm 1983 của ILO quy định: “Thương lượng tập thể áp dụng cho mọi cuộc thương lượng giữa một bên là một người sử dụng lao động, một nhóm người sử dụng lao động hoặc một hay nhiều tổ chức của người sử dụng lao động với một bên là một hay nhiều tổ chức của người lao động, để:

1 ) Quy định những điều kiện kèm theo lao động và sử dụng lao động ;
2 ) Giải quyết những mối quan hệ giữa những người sử dụng lao động với những người lao động ;

3) Giải quyết những mối quan hệ giữa những người sử dụng lao động hoặc các tổ chức của họ với một hoặc nhiều tổ chức của người lao động”.

Từ pháp luật của ILO, lúc bấy giờ thương lượng tập thể được triển khai ở hầu hết những nước trên quốc tế. Tùy vào điều kiện kèm theo kinh tế tài chính, chính trị, xã hội của mỗi nước mà yếu tố thương lượng tập thể được pháp lý những nước pháp luật khác nhau. Một số nước phần đông chỉ pháp luật thương lượng tập thể ở khoanh vùng phạm vi cấp ngành như Bỉ, Đức. Còn những nước khác như : Anh, Pháp, Italia, Nước Hàn, Trung Quốc, Nga, Thailand, Nước Singapore … thì việc thương lượng tập thể được thực thi cả ở khoanh vùng phạm vi cấp ngành và khoanh vùng phạm vi cấp doanh nghiệp. Điều này cho thấy việc pháp luật hạn chế khoanh vùng phạm vi đối thoại là chưa tương thích, chính bới nhìn một cách tổng quan thì thương lượng tập thể được nhìn nhận là một hình thức đối thoại xã hội .

Ở Việt Nam, trước đây pháp luật lao động không quy định trực tiếp và cụ thể về thương lượng tập thể. Đến nay, BLLĐ đã quy định trực tiếp về vấn đề này. Theo đó, thương lượng tập thể được tiến hành ở cả hai phạm vi ngành và doanh nghiệp. Trên tinh thần đó, Điều 66 đã bao quát được các vấn đề về bản chất của thương lượng tập thể (là quá trình thỏa thuận), chủ thể của thương lượng tập thể (tập thể lao động và người sử dụng lao động hoặc thông qua đại diện của họ) và ba mục tiêu của thương lượng tập thể.

Quy định này đã thể hiện sự tiến bộ của pháp luật lao động Việt Nam hiện hành, phù hợp với xu hướng chung của pháp luật lao động các nước trên thế giới. Đó là, thông qua đại diện của mình, các bên được bày tỏ ý chí trong việc tự định đoạt về quyền, nghĩa vụ và lợi ích trên cơ sở quy định của pháp luật và phù hợp với điều kiện thực tế của đơn vị để xác lập thoả ước tập thể, một văn kiện có tầm quan trọng đặc biệt đối với quan hệ lao động, được coi như là “luật của doanh nghiệp”.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *