Thu hồi đất thì nhận tiền bồi thường như thế nào?

Ngày gửi : 20/08/2020 lúc 09:48:13Thưa luật sư ! Năm 2010 nhà nước có tịch thu của mái ấm gia đình tôi gần 250 mét vuông đất ở. Năm 2015 dự án Bất Động Sản liên tục được tiến hành. Gia đình tôi chưa được nhận tiền đền bù đất của năm 2010, Hiện nay mái ấm gia đình tôi có được đền bù theo giá đất của năm 2015 hay không ? Lỗi này không thuộc về mái ấm gia đình chúng tôi mà thuộc về chủ góp vốn đầu tư. Việc đền bù áp giá theo luật đất đai năm 2003 hay năm 2013 và theo NĐ nào của cơ quan chính phủ. Tôi xin cảm ơn !

Câu trả lời tham khảo:

Hệ thống pháp luật Việt Nam (hethongphapluat.com) xin chân thành cảm ơn bạn đã tin tưởng gửi câu hỏi đến chúng tôi. Sau khi nghiên cứu, đối chiếu với quy định của pháp luật hiện hành, chúng tôi xin đưa ra câu trả lời có tính chất tham khảo như sau:

Căn cứ Điều 42 Luật đất đai năm 2003 :
” Điều 42. Bồi thường, tái định cư cho người có đất bị tịch thu
1. Nhà nước tịch thu đất của người sử dụng đất mà người bị tịch thu đất có giấy ghi nhận quyền sử dụng đất hoặc đủ điều kiện kèm theo để được cấp giấy ghi nhận quyền sử dụng đất theo lao lý tại Điều 50 của Luật này thì người bị tịch thu đất được bồi thường, trừ những trường hợp pháp luật tại những khoản 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11 và 12 Điều 38 và những điểm b, c, d, đ và g khoản 1 Điều 43 của Luật này .

2. Người bị thu hồi loại đất nào thì được bồi thường bằng việc giao đất mới có cùng mục đích sử dụng,nếu không có đất để bồi thường thì được bồi thường bằng giá trị quyền sử dụng đất tại thời điểm có quyết định thu hồi.

3. Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố thường trực TW lập và triển khai những dự án Bất Động Sản tái định cư trước khi tịch thu đất để bồi thường bằng nhà tại, đất ở cho người bị tịch thu đất ở mà phải chuyển dời chỗ ở. Khu tái định cư được quy hoạch chung cho nhiều dự án Bất Động Sản trên cùng một địa phận và phải có điều kiện kèm theo tăng trưởng bằng hoặc tốt hơn nơi ở cũ .
Trường hợp không có khu tái định cư thì người bị tịch thu đất được bồi thường bằng tiền và được ưu tiên mua hoặc thuê nhà ở thuộc chiếm hữu của Nhà nước so với khu vực đô thị ; bồi thường bằng đất ở so với khu vực nông thôn, trường hợp giá trị quyền sử dụng đất ở bị tịch thu lớn hơn đất ở được bồi thường thì người bị tịch thu đất được bồi thường bằng tiền so với phần chênh lệch đó .
4. Trường hợp tịch thu đất của hộ mái ấm gia đình, cá thể trực tiếp sản xuất mà không có đất để bồi thường cho việc liên tục sản xuất thì ngoài việc được bồi thường bằng tiền, người bị tịch thu đất còn được Nhà nước tương hỗ để không thay đổi đời sống, đào tạo và giảng dạy quy đổi ngành nghề, sắp xếp việc làm mới .
5. Trường hợp người sử dụng đất được Nhà nước bồi thường khi tịch thu đất mà chưa triển khai nghĩa vụ và trách nhiệm kinh tế tài chính về đất đai theo lao lý của pháp lý thì phải trừ đi giá trị nghĩa vụ và trách nhiệm kinh tế tài chính chưa thực thi trong giá trị được bồi thường, tương hỗ .
6. nhà nước lao lý việc bồi thường, tái định cư cho người có đất bị tịch thu và việc tương hỗ để triển khai tịch thu đất. ”
Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật đất đai năm 2003 :

“4. Giá đất do Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quy định được công bố công khai vào ngày 01 tháng 01 hàng năm được sử dụng làm căn cứ để tính thuế sử dụng đất, thuế thu nhập từ chuyển quyền sử dụng đất; tính tiền sử dụng đất và tiền thuê đất khi giao đất, cho thuê đất không thông qua đấu giá quyền sử dụng đất hoặc đấu thầu dự án có sử dụng đất; tính giá trị quyền sử dụng đất khi giao đất không thu tiền sử dụng đất, lệ phí trước bạ, bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất; tính tiền bồi thường đối với người có hành vi vi phạm pháp luật về đất đai mà gây thiệt hại cho Nhà nước.

Như vậy trong trường hợp này thì giá đất để được làm địa thế căn cứ tính giá bồi thường là giá đất tại thời gian có quyết định hành động tịch thu .
Tuy nhiên, do đến thời gian này vẫn chưa triển khai việc chi trả tiền bồi thường thì thực thi theo lao lý tại như sau :
– Trường hợp đã có quyết định hành động thu hồ và quyết định hành động phê duyệt giải pháp bồi thường, tương hỗ tái định cư : khoản 3 điều 34 Nghị định 47/2014 / NĐ-CP pháp luật : ” 3. Trường hợp đã có quyết định hành động tịch thu đất và có giải pháp bồi thường, tương hỗ, tái định cư được phê duyệt theo pháp luật của pháp lý về đất đai trước ngày 01 tháng 7 năm năm trước thì liên tục triển khai theo giải pháp đã phê duyệt. ”
Khoản 1 Điều 14 thông tư 37/2014 / TT-BTNMT có hướng dẫn đơn cử như sau :
” 1. Đối với dự án Bất Động Sản góp vốn đầu tư đã có quyết định hành động tịch thu đất và quyết định hành động phê duyệt giải pháp bồi thường, tương hỗ, tái định cư của cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhưng đến trước ngày 01 tháng 7 năm năm trước chưa thực thi chi trả tiền bồi thường thì việc giải quyết và xử lý bồi thường chậm thực thi theo pháp luật của pháp lý về đất đai trước ngày 01 tháng 7 năm năm trước. ”
– Trường hợp đã có quyết định hành động tịch thu đất nhưng chưa có giải pháp bồi thường, tương hỗ, tái định cư được phê duyệt trước ngày 01 tháng 7 năm năm trước thì xử lý theo lao lý tại khoản 4 điều 34 nghị định 47/2014 / NĐ-CP sau đây : ” a ) Đối với dự án Bất Động Sản thuộc trường hợp tịch thu đất pháp luật tại Điều 61 và Điều 62 của Luật Đất đai, chủ góp vốn đầu tư đủ điều kiện kèm theo pháp luật tại Khoản 3 Điều 58 của Luật Đất đai thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh được cho phép liên tục lập, thẩm định và đánh giá, phê duyệt giải pháp bồi thường, tương hỗ, tái định cư theo lao lý của Luật Đất đai năm 2013 ; ”
Theo pháp luật của Luật đất đai năm 2013 thì giá đất để bồi thường khi nhà nước tịch thu đất là giá do Ủy ban nhân dân tỉnh phát hành tại thời gian có quyết định hành động tịch thu đất .

Trên đây là câu vấn đáp của Hệ Thống Pháp Luật Nước Ta tương quan đến nhu yếu câu hỏi của bạn. Hy vọng câu vấn đáp của chúng tôi sẽ có ích cho bạn .
Nếu có bất kể vướng mắc gì về pháp lý mời bạn liên tục đặt câu hỏi. Chúng tôi luôn sẵn sàng chuẩn bị giải đáp .

Trân trọng cảm ơn.

BBT.Hệ Thống Pháp Luật Việt nam

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.