Cảnh sát biển Việt Nam – Wikipedia tiếng Việt

Bộ Tư lệnh Cảnh sát biển Việt Nam, còn gọi là Cảnh sát biển Việt Nam (tiếng Anh: Vietnam Coast Guard  hay viết tắt là VCG – được quy định theo Điều 4, Nghị định 96/2013/NĐ-CP ngày 27 tháng 8 năm 2013)[1], một số tài liệu còn viết là Tuần duyên Việt Nam, là lực lượng quân sự chuyên trách thuộc Chính phủ CHXHCN Việt Nam, thực hiện chức năng quản lý về an ninh, trật tự, an toàn và bảo đảm việc chấp hành pháp luật của nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam và điều ước quốc tế có liên quan mà Việt Nam là thành viên trên các vùng biển và thềm lục địa của Việt Nam.

Theo những văn bản pháp lý hiện hành tại Nước Ta, Cảnh sát biển Nước Ta là lực lượng vũ trang nhân dân, đặt dưới sự chỉ huy của Đảng Cộng sản Việt Nam, sự thống lĩnh của quản trị nước Nước Ta, sự quản trị thống nhất của nhà nước. Cảnh sát biển Nước Ta được tổ chức triển khai và hoạt động giải trí theo lao lý của Pháp lệnh Lực lượng Cảnh sát biển Nước Ta ngày 5 tháng 2 năm 2008 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Bộ Quốc phòng trực tiếp quản trị và điều hành quản lý hoạt động giải trí của lực lượng Cảnh sát biển Nước Ta. [ 2 ]

Lịch sử hình thành[sửa|sửa mã nguồn]

Trước năm 1998, chính quyền sở tại Nước Ta không có một cơ quan Cảnh sát biển chuyên được dùng nào mà chỉ có lực lượng thủy quân tuần tra ngoài khơi cùng những hoạt động giải trí quân sự chiến lược khác. Ngoài ra là những đội tàu tuần tra thuộc Bộ Tư lệnh Biên phòng, trong đó có những trạm trấn áp ở cửa sông, cảng biển. Còn lại, tổng thể nghĩa vụ và trách nhiệm tuần tra sông thuộc về Cảnh sát Giao thông đường thủy ( Cục Cảnh sát giao thông vận tải đường thủy – C68 ) dưới sự chỉ huy của Công an những tỉnh và thành phố .

Ngày 28 tháng 8 năm 1998, Cục cảnh sát biển Việt Nam thuộc Bộ tư lệnh Hải quân được thành lập, đánh dấu sự ra đời của Cảnh sát biển Việt Nam. Lúc mới thành lập thì Cục cảnh sát biển chỉ là một Cục chức năng và không chỉ huy các Vùng cảnh sát biển được thành lập sau đó.

Năm 2008, Cục Cảnh sát biển được chuyển về thường trực Bộ Quốc phòng và đồng thời những Vùng cảnh sát biển được chuyển về thường trực Cục .Năm 2013, Cục cảnh sát biển đổi tên thành Bộ Tư lệnh Cảnh sát biển theo Nghị định số 96/2013 / NĐ-CP, ngày 27 tháng 08 năm 2013 của nhà nước. Có con dấu hình quốc huy, là cơ quan mang danh nghĩa thường trực nhà nước Nước Ta. Cảnh sát biển Nước Ta có ngân sách riêng của Nhà nước, có cảnh hiệu, cảnh phục riêng do nhà nước pháp luật. Ngày 10 tháng 9 năm năm trước, những Vùng cảnh sát biển được đổi tên thành Bộ tư lệnh Vùng cảnh sát biển theo quyết định hành động của Bộ trưởng Quốc phòng .

  1. Tuần tra, kiểm soát tất cả người, phương tiện hoạt động trên các vùng biển Việt Nam để bảo vệ chủ quyền, giữ gìn an ninh, trật tự trên biển;
  2. Xử lý vi phạm hành chính trên vùng biển Việt Nam;
  3. Bắt giữ, tiến hành một số hoạt động điều tra các hành vi phạm tội trên vùng biển Việt Nam và toàn bộ vịnh Thái Lan: Buôn lậu, vận chuyển hàng hóa trái phép qua biên giới, tội phạm về ma túy, môi trường, cướp biển…
  4. Bảo vệ môi trường biển;
  5. Bảo vệ tài nguyên sống của biển;
  6. Bảo vệ vận tải biển;
  7. Hỗ trợ hàng hải;
  8. Tìm kiếm cứu nạn (SAR);
  9. Hợp tác quốc tế với các quốc gia để bảo vệ an ninh vùng biển;

Để triển khai công dụng, trách nhiệm, Cảnh sát biển Nước Ta có những quyền hạn theo pháp luật của pháp lý và có những quyền hạn cơ bản sau :

  • Kiểm tra, kiểm soát người, phương tiện hoạt động trong vùng biển Việt Nam.
  • Sử dụng vũ khí, công cụ hỗ trợ, phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ và thực hiện quyền nổ súng. 
  • Xử lý vi phạm hành chính và tiến hành hoạt động điều tra hình sự.
  • Thực hiện trưng dụng tài sản của tổ chức, công dân Việt Nam.
  • Truy đuổi người, phương tiện vi phạm pháp luật trên biển.
  • Huy động người, phương tiện, trang thiết bị kỹ thuật dân sự của cá nhân, tổ chức Việt Nam. 
  • Yêu cầu tổ chức, cá nhân và phương tiện nước ngoài hoạt động trong vùng biển Việt Nam hỗ trợ, giúp đỡ.
  • Bắt giữ tàu thuyền vi phạm pháp luật.
  • Sử dụng các biện pháp nghiệp vụ và thực hiện các quyền hạn khác được quy định tại Điều 24 Luật An ninh quốc gia năm 2004. Tư lệnh Cảnh sát biển quyết định việc sử dụng các quyền hạn theo quy định tại Điều này theo thủ tục, thẩm quyền do Chính phủ quy định và chịu trách nhiệm trước pháp luật về quyết định của mình.

Phạm vi hoạt động giải trí[sửa|sửa mã nguồn]

1. Cảnh sát biển Nước Ta hoạt động giải trí trong vùng biển Nước Ta và vùng biển Khu vực Đông Nam Á .2. Trong trường hợp vì mục tiêu nhân đạo, độc lập, phòng chống tội phạm, vi phạm pháp lý trên biển, Cảnh sát biển Nước Ta được hoạt động giải trí ở địa phận tương quan, trên vùng biển quốc tế, vùng biển quốc tế, nhưng phải tuân thủ pháp lý Nước Ta, thỏa thuận hợp tác song phương, điều ước và pháp lý quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên .

Loạt chỉ huy bị không bổ nhiệm[sửa|sửa mã nguồn]

Ngày 1.10.2021 Ban Bí thư thi hành kỷ luật Ban Thường vụ Đảng ủy Cảnh sát biển Việt Nam nhiệm kỳ 2015 – 2020 và một số cá nhân. Trung tướng Nguyễn Văn Sơn, trung tướng Hoàng Văn Đồng, thiếu tướng Doãn Bảo Quyết, thiếu tướng Bùi Trung Dũng, thiếu tướng Phạm Kim Hậu, thiếu tướng Trần Văn Nam, thiếu tướng Đào Hồng Nghiệp bị cách chức tất cả các chức vụ trong Đảng. Thi hành kỷ luật Ban Thường vụ Đảng ủy Cảnh sát biển nhiệm kỳ 2015 – 2020 bằng hình thức cảnh cáo. Thi hành kỷ luật bằng hình thức khai trừ ra khỏi Đảng đối với thiếu tướng Lê Xuân Thanh và thiếu tướng Lê Văn Minh. [5]

Lãnh đạo lúc bấy giờ[sửa|sửa mã nguồn]

Ngày 24.10.2021, Phó thủ tướng thường trực Phạm Bình Minh ký phát hành những quyết định hành động của Thủ tướng nhà nước, chỉ định ban chỉ huy Bộ tư lệnh Cảnh sát biển Nước Ta mới. [ 6 ]

  • Phó Chính ủy: Đại tá Trần Văn Xuân (Nguyên Phó Cục trưởng Cục Bảo vệ An ninh Quân đội, TCCT)

Tổ chức chính quyền sở tại[sửa|sửa mã nguồn]

Cơ quan chức năng[sửa|sửa mã nguồn]

Đơn vị cơ sở[sửa|sửa mã nguồn]

  • Trung tâm Đào tạo và Bồi dưỡng nghiệp vụ Cảnh sát biển
  • Đoàn Trinh sát số 1.
  • Đoàn Trinh sát số 2.
  • Đoàn đặc nhiệm phòng, chống tội phạm ma túy số 1.
  • Đoàn đặc nhiệm phòng, chống tội phạm ma túy số 2.
  • Đoàn đặc nhiệm phòng, chống tội phạm ma túy số 3.
  • Đoàn đặc nhiệm phòng, chống tội phạm ma túy số 4.[1]

Vùng Cảnh sát biển[sửa|sửa mã nguồn]

Các Vùng Cảnh sát biển Nước Ta

  • Trong nội thủy, lãnh hải và vùng nước cảng biển của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, Lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam có nhiệm vụ kiểm tra, kiểm soát theo quy định của pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế có liên quan mà Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam là thành viên để bảo vệ chủ quyền; giữ gìn an ninh, trật tự, an toàn; bảo vệ tài nguyên, phòng, chống ô nhiễm môi trường; phát hiện, ngăn chặn, đấu tranh chống các hành vi buôn lậu, vận chuyển trái phép và mua bán người, vận chuyển, mua bán trái phép hàng hoá, vũ khí, chất nổ, chất ma tuý, tiền chất và các hành vi vi phạm pháp luật khác.
  • Trong vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, Lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam có nhiệm vụ tuần tra, kiểm soát theo quy định của pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế có liên quan mà Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam là thành viên để bảo vệ quyền chủ quyền, quyền tài phán; bảo vệ tài nguyên, phòng, chống ô nhiễm môi trường; phát hiện, ngăn chặn và đấu tranh chống các hành vi buôn lậu, cướp biển, cướp có vũ trang chống lại tàu thuyền, vận chuyển trái phép và buôn bán người, vận chuyển, mua bán trái phép các chất ma túy.
  • Ngày 10 tháng 9 năm 2014, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng ký Quyết định nâng cấp Bộ Chỉ huy Vùng Cảnh sát biển thành Bộ Tư lệnh Vùng Cảnh sát biển tương đương các Quân đoàn hay Hạm đội hải quân.[7][8]
  • Bộ Tư lệnh Vùng 1
  • Bộ Tư lệnh Vùng 2
  • Bộ Tư lệnh Vùng 3
  • Bộ Tư lệnh Vùng 4

Quân hàm chức vụ trong Cảnh sát biển[sửa|sửa mã nguồn]

Theo Luật sĩ quan Quân đội nhân dân Nước Ta năm năm trước ː [ 9 ]

  • Thủ tướng Chính phủ bổ nhiệm, miễn nhiệm Tư lệnh và Chính ủy Cảnh sát biển [10].
  • Tư lệnh và Chính ủy Cảnh sát biển có trần quân hàm cao nhất là Trung tướng[9]
  • Phó Tư lệnh Cảnh sát biển có trần quân hàm cao nhất là Thiếu tướng không quá 3 người.[9]
  • Phó Chính ủy Cảnh sát biển có trần quân hàm cao nhất là Thiếu tướng không quá 1 người[9]
  • Tư lệnh và Chính ủy Vùng Cảnh sát biển có trần quân hàm cao nhất là Thiếu tướng
  • Các chức vụ khác có trần quân hàm cao nhất là Đại tá[9]

Sĩ quan

Cấp hiệu trên cầu vai
Vietnam Marine Police Lieutenant General.jpg
Vietnam Marine Police Major General.jpg
Vietnam Marine Police Colonel.jpg
Vietnam Marine Police Senior Colonel.jpg
Vietnam Marine Police Lieutenant Colonel.jpg
Vietnam Marine Police Major.jpg
Vietnam Marine Police Captain.jpg
Vietnam Marine Police Senior Lieutenant.jpg
Vietnam Marine Police Lieutenant.jpg
Vietnam Marine Police SubLieutenant.jpg
Cấp bậc Quân hàm
Trung tướng
Thiếu tướng
Đại tá
Thượng tá
Trung tá
Thiếu tá
Đại úy
Thượng úy
Trung úy
Thiếu úy
Chức vụ

  • Tư lệnh Cảnh sát biển
  • Chính ủy Cảnh sát biển
  • Tham mưu trưởng Cảnh sát biển
  • Phó Tư lệnh Cảnh sát biển
  • Phó Chính ủy Cảnh sát biển
  • Tư lệnh Vùng Cảnh sát biển
  • Chính ủy Vùng Cảnh sát biển
  • Tham mưu phó Cảnh sát biển
  • Phó Chủ nhiệm Chính trị Cảnh sát biển
  • Chủ nhiệm Hậu cần Cảnh sát biển
  • Chủ nhiệm Kỹ thuật Cảnh sát biển
  • Chánh văn phòng Cảnh sát biển
  • Chánh thanh tra Cảnh sát biển
  • Phó Tư lệnh Vùng Cảnh sát biển
  • Phó Chính ủy Vùng Cảnh sát biển

Học viên

Hạ sĩ quan

Thủy thủ

Cấp hiệu trên cầu vai
Vietnam People's Navy student officer.jpg
Vietnam Marine Police Sergeant major.jpg
Vietnam Marine Police Sergeant.jpg
Vietnam Marine Police Corporal.jpg
Vietnam Marine Police First Private.jpg
Vietnam Marine Police Second Private.jpg
Cấp bậc Quân hàm
Học viên Sĩ quan
Thượng sĩ
Trung sĩ
Hạ sĩ
Binh nhất
Binh nhì

Tư lệnh qua những thời kỳ[sửa|sửa mã nguồn]

Xem bài: Tư lệnh Bộ Tư lệnh Cảnh sát biển

Chính ủy qua những thời kỳ[sửa|sửa mã nguồn]

Tham mưu trưởng qua những thời kỳ[sửa|sửa mã nguồn]

Xem bài: Tham mưu trưởng Cảnh sát biển Việt Nam

Phó Tư lệnh qua những thời kỳ[sửa|sửa mã nguồn]

Phó Chính ủy qua những thời kỳ[sửa|sửa mã nguồn]

STT

Họ tên

Thời gian đảm nhiệm

Cấp bậc

Ghi chú

1

Lê Đình Phú

2008-2012

Đại tá

Nguyên Chủ nhiệm Chính trị.

2

Nguyễn Sỹ Khương

2012-2014

Đại tá

Nguyên Chính ủy Vùng Cảnh sát biển 1

3

Hoàng Văn Đồng

2014-2015

Trung tướng (2015)

Đã bị Cách chức tất cả các chức vụ trong Đảng từ (1/10/2021)

4

Doãn Bảo Quyết

2015-9.2021

Thiếu tướng (2016)[19]

Đã bị Cách chức tất cả các chức vụ trong Đảng (từ 1/10/2021)
Bị Cách chức Phó Chính ủy kiêm Chủ nhiệm Chính trị CSB ( từ 22/10/2021 )

5

Trần Văn Xuân

22/10/2021-nay

Đại tá

Các tàu của Cảnh sát biển Nước Ta được trang bị cho tương thích với từng tính năng riêng không liên quan gì đến nhau. Hầu hết là tàu tự sản xuất .

  1. Nhiệm vụ tuần tra và bảo vệ bờ biển bao gồm các tàu có trọng tải từ 120-400 tấn, có tốc độ rất cao, trang bị vũ khí mạnh mẽ, số hiệu là 00xx, 20xx, 30xx, 40xx, 50xx.
  2. Nhiệm vụ hỗ trợ tìm kiếm cứu nạn bao gồm các tàu có trọng tải từ 1000 – 2000 tấn, số hiệu thường là 60xx
  3. Nhiệm vụ tuần tra ngoài khơi, bảo vệ các vùng biển, bảo vệ các đảo và chỉ huy bao gồm các tàu có trọng tải 2500 tấn trở lên được trang bị vũ khí hiện đại, có sàn đỗ trực thăng, số hiệu thường là 80xx
  4. Riêng nhiệm vụ tìm kiếm cứu nạn còn có các tàu mang số hiệu thường là 90.. hoặc SAR
  5. Số hiệu của tàu bắt đầu với CSB (Cảnh Sát Biển). Ví dụ: CSB 8001, CSB 4033…
  6. Nhiệm vụ tuần tra, kiểm soát, chống buôn lậu trong 500 hải lý bao gồm các xuồng tuần tra cao tốc mang số hiệu thường là 4xx, 6xx, 7xx
  7. Ngoài ra còn có 3 máy bay tuần thám CASA C-212 mang số hiệu 8981, 8982, 8983 với nhiều trang bị kỹ thuật hiện đại theo tiêu chuẩn châu Âu, được thiết kế chuyên biệt cho nhiệm vụ tuần thám hải quân. (máy bay mang số hiệu 8983 đã bị rơi khi thực hiện nhiệm vụ tìm kiếm cứu nạn chiếc Su-30MK2 bị mất tín hiệu khi đang huấn luyện trên biển)

Liên kết ngoài[sửa|sửa mã nguồn]

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *