Hôn nhân – Wikipedia tiếng Việt

hôn nhân, được người [1]Hai bàn tay siết chặt trong, được người La Mã cổ đại lý tưởng hóa như là khối nhà nền tảng của xã hội và là sự sát cánh của hai người bạn đời tri kỷ cùng nhau thao tác, sinh thành và nuôi dạy con cháu, đảm đương việc làm hàng ngày, sống cuộc sống gương mẫu, và tận thưởng tình yêu thương .

Hôn nhân, một cách chung nhất có thể được xác định là sự xếp đặt của một xã hội để điều chỉnh mối quan hệ sinh lý giữa đàn ông và phụ nữ. Nó là một hình thức xã hội luôn luôn thay đổi trong suốt quá trình phát triển của mối quan hệ giữa họ, nhờ đó xã hội xếp đặt và cho phép họ sống chung và sinh con đẻ cái với nhau, quy định quyền lợi và nghĩa vụ của họ. Hôn nhân là sự kết hợp của các cá nhân về mặt tình cảm, xã hội, và hoặc tôn giáo một cách hợp pháp. Hôn nhân có thể là kết quả của tình yêu. Hôn nhân là một mối quan hệ cơ bản trong gia đình ở hầu hết xã hội. Về mặt xã hội, lễ cưới thường là sự kiện đánh dấu sự chính thức bắt đầu của hôn nhân. Về mặt luật pháp, đó là việc đăng ký kết hôn với cơ quan Nhà nước.

Hôn nhân thường là sự kết hợp giữa một người đàn ông được gọi là chồng và một người phụ nữ được gọi là vợ. Ngoài ra còn tồn tại một số biến dị của hôn nhân khác như: Hôn nhân đa thê là việc một người đàn ông có thể kết hôn với nhiều vợ cùng lúc, hôn nhân đồng tính là việc hai người cùng giới tính kết hôn, hôn nhân tạm là việc 2 người chung sống như vợ chồng nhưng không đăng ký kết hôn, tảo hôn là việc người chưa đủ tuổi nhưng vẫn kết hôn, hôn nhân cận huyết là 2 người có họ hàng gần kết hôn với nhau… Tuy nhiên, hôn nhân 1 vợ – 1 chồng vẫn là loại hình hôn nhân cơ bản nhất, được pháp luật công nhận ở mọi quốc gia và mọi thời đại, trong khi các biến dị khác (hôn nhân đa thê, Hôn nhân tạm, hôn nhân đồng tính) thì chỉ được chấp nhận ở một số ít quốc gia trong một số giai đoạn lịch sử, vì những kiểu hôn nhân biến dị đó tạo ra tác hại lâu dài cho văn hóa, đạo đức xã hội và trẻ em.

Ở Việt Nam, Điều 36 Hiến pháp năm 2013 quy định “Hôn nhân là sự kết hợp đặc biệt dựa trên nguyên tắc bình đẳng, tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng”. Như vậy có nghĩa rằng Nhà nước Việt Nam chỉ công nhận hôn nhân giữa 1 nam và 1 nữ, các biến dị khác như hôn nhân đồng tính, hôn nhân đa thê hoặc tảo hôn đều là vi hiến, và Luật hôn nhân và gia đình không công nhận những kiểu biến dị đó.

Tầm quan trọng của hôn nhân[sửa|sửa mã nguồn]

Gia đình được coi là tế bào của xã hội. Hôn nhân và Gia đình là nền tảng của xã hội, nơi sinh ra, nuôi dưỡng và giáo dục các thế hệ tương lai của đất nước, nơi gìn giữ và phát triển các nét đặc trưng văn hóa, truyền thống của một dân tộc, một quốc gia. Có các tế bào khỏe mạnh thì xã hội mới phát triển, ngược lại, nếu xuất hiện ngày càng nhiều “tế bào lỗi” thì xã hội sẽ suy thoái, truyền thống văn hóa, đạo đức của đất nước sẽ tan vỡ.

Cổ nhân đã đúc rút : Sự sinh sôi của vạn vật là theo lẽ tự nhiên, con người cũng là một phần của vạn vật, cũng theo lẽ Trời đất mà biến hóa, nên phải có phối ngẫu nam nữ : Trai phải có vợ, gái phải có chồng, phối hợp âm-dương thì loài người mới duy trì nòi giống được, xã hội mới không thay đổi tăng trưởng được. Sách Lễ Ký viết :

“Một âm thì không sinh, một dương thì không lớn, cho nên Trời đất phối hợp âm dương; nam với nữ lập gia thất, nữ với nam tạo gia đình, cho nên nhân sinh sánh đôi bởi vợ chồng”
Đạo vợ chồng chính là khởi đầu của nhân luân, là dây mối của vương hóa

Mục đích cơ bản nhất và quan trọng nhất của đời sống hôn nhân là việc sinh sản, nuôi dưỡng và giáo dục con cái, qua đó góp phần duy trì nòi giống, đảm bảo tương lai tồn tại của cả một dân tộc. Chỉ có hôn nhân 1 vợ – 1 chồng là đáp ứng được các mục đích này và tạo ra các “tế bào khỏe mạnh” cho xã hội. Trong khi đó, các biến dị khác của hôn nhân không đạt được mục đích này (hôn nhân đa thê hoặc Hôn nhân tạm không đảm bảo được việc nuôi dạy trẻ em lành mạnh, hôn nhân đồng tính thì vừa không duy trì được nòi giống vừa không đảm bảo được việc nuôi dạy trẻ em lành mạnh), chúng tạo ra các “tế bào lỗi” góp phần làm suy thoái xã hội.

Do vậy, hôn nhân 1 vợ – 1 chồng là mô hình hôn nhân cơ bản nhất, được pháp lý công nhận ở mọi vương quốc và mọi thời đại, trong khi những biến dị khác của hôn nhân ( đa thê, Hôn nhân tạm, hôn nhân đồng tính ) thì chỉ được đồng ý ở 1 số ít vương quốc trong 1 số ít quy trình tiến độ lịch sử dân tộc .

Hậu quả khi truyền thống cuội nguồn hôn nhân suy thoái và khủng hoảng[sửa|sửa mã nguồn]

Hôn nhân chính là cơ sở nền tảng cho những liên kết xã hội khác ( mái ấm gia đình, dòng họ, làng xóm ). Nếu truyền thống cuội nguồn hôn nhân suy thoái và khủng hoảng thì những liên kết xã hội cũng sẽ tan vỡ, truyền thống lịch sử văn hóa truyền thống dân tộc bản địa cũng suy đồi và sức mạnh vương quốc sẽ bị hủy hoại .

Có phân tích cho rằng văn minh phương Tây (Mỹ và Tây Âu) hiện đang tàn lụi do kết cấu gia đình tại các nước này đang bị phá vỡ. Kể từ sau Thế chiến 2, chủ nghĩa cá nhân, quan hệ tình dục trước hôn nhân, phim ảnh khiêu dâm, phong trào cổ vũ đồng tính luyến ái, hợp pháp hóa hôn nhân đồng tính, chuyển đổi giới tính… nảy nở mạnh ở Mỹ và Tây Âu, chúng đã phá hủy phần lớn các giá trị hôn nhân – gia đình trong xã hội[2]. Nhà nghiên cứu Mark Steyn phân tích rằng xã hội các nước Tây Âu đang đi đến tự sát và hấp hối bởi tỷ lệ kết hôn và sinh sản giảm xuống quá thấp, giới trẻ thì mất hẳn niềm tin vào hôn nhân, kết quả là người Tây Âu đang chịu nạn lão hóa dân số và bị lấn át bởi người Hồi giáo nhập cư. Mark Steyn nói rằng đã quá muộn để cứu vãn các nước Tây Âu: “Châu Âu thời kỳ hậu Ki-tô giáo không thực sự có niềm tin và nó cũng không có chuẩn mực gia đình. Họ đang biến dần vào quá khứ. Xã hội của họ, về cơ bản, đã bị phá vỡ thành những mảnh nhỏ”[3].

Nhà điều tra và nghiên cứu Richard Dawkins cảnh báo nhắc nhở rằng sự sụp đổ của những xã hội Tây Âu không phải là điều xa vời. Với thực trạng này, thì tới khoảng chừng năm 2050 – 2070, người Hồi giáo sẽ trở thành nhóm dân cư chiếm hầu hết tại những nước Tây Âu. Khi đó, người Hồi giáo sẽ ” chiếm cứ ” được Tây Âu mà không cần vũ khí, và văn minh Tây Âu địa phương sẽ tàn lụi [ 4 ] Khi điều đó xảy ra, đây sẽ là ví dụ minh họa rõ ràng cho việc cả một quốc gia, một nền văn hóa truyền thống dù thịnh vượng về kinh tế tài chính tuy nhiên lại dần bị suy thoái và khủng hoảng và tàn lụi, chỉ bởi truyền thống cuội nguồn hôn nhân 1 nam – 1 nữ bị xã hội đó phá bỏ và coi thường .Nhà nhân chủng học Stanley Kurtz lý giải về việc tại sao hôn nhân phải nên được số lượng giới hạn giữa 1 vợ – 1 chồng, trong khi những biến dị khác của hôn nhân ( hôn nhân đa thê, hôn nhân đồng tính ) thì không :

Chấp nhận hôn nhân đồng tính đã làm suy yếu thể chế hôn nhân và dẫn đến tình hình hiện nay tại Bắc Âu: hôn nhân truyền thống hiếm hoi hơn, sinh con ngoài giá thú phổ biến hơn, và tan vỡ gia đình tăng vọt. Trong bối cảnh nước Mỹ, điều này sẽ là một thảm họa. Việc chấp nhận hôn nhân đồng tính và sự xói mòn của hôn nhân truyền thống luôn song hành ở các quốc gia, truyền thống hôn nhân là tàn lụi nhất ở bất cứ nơi nào hôn nhân đồng tính là hợp pháp
Hôn nhân đồng tính không thể đem lại cho trẻ em cả cha lẫn mẹ. Nếu hôn nhân không phải là vì trẻ em, vậy thứ gì là vì trẻ em? Trái ngược với những gì các nhà hoạt động đồng tính hô hào, nhà nước không xác nhận quyền kết hôn chỉ vì mọi người có tình cảm với nhau. Nhà nước công nhận hôn nhân chủ yếu là vì lợi ích của hôn nhân cho trẻ em và xã hội (nếu không, chúng ta sẽ phải công nhận cả hôn nhân cận huyết hoặc chế độ đa thê). Xã hội không nhận được lợi ích gì từ hôn nhân đồng tính. Tương lai của trẻ em và một xã hội văn minh phụ thuộc vào hôn nhân bền vững giữa nam và nữ. Đó là lý do tại sao, bất kể những gì bạn nghĩ về đồng tính luyến ái, hai loại quan hệ không bao giờ nên được coi là tương đương về pháp lý.[5]

Thomas Peters, giám đốc văn hóa truyền thống tại Cơ quan Hôn Nhân Quốc gia Hoa Kỳ, cho rằng thể chế hôn nhân suy yếu bởi trào lưu đòi công nhận hôn nhân đồng tính sẽ gây ra nhiều hậu quả xấu cho xã hội :

“Khi bạn đã cắt lìa định chế hôn nhân khỏi gốc rễ sinh học của nó (1 nam – 1 nữ), thì chẳng còn gì để chặn đứng việc tái định nghĩa nó cho phù hợp với đòi hỏi của các nhóm quyền lợi khác nhau. Các hậu quả này đã xuất hiện tại nhiều quốc gia đã hợp pháp hôn nhân đồng tính. Tại Brazil và Hà Lan, các quan hệ tay ba (một chồng hai vợ) gần đây đã được hợp thức hóa. Ở Canada, một người đàn ông đa thê đã phát động chiến dịch đòi luật pháp thừa nhận chế độ quần hôn. Ngay ở Mỹ, bang California cũng đã thông qua một dự luật để hợp pháp hóa các gia đình gồm tới ba hay bốn cha mẹ. Sinh sản và nuôi dạy trẻ em là lý do chính khiến hôn nhân phải được giới hạn giữa hai người khác giới tính. Khi tình yêu tính dục thay thế cho trẻ em làm mục đích chính của hôn nhân, thì các giới hạn hôn nhân đâu còn nghĩa lý gì với thế hệ tương lai của loài người nữa.[6]

Nhà điều tra và nghiên cứu Ryan Normandin của Đại học RMIT cho rằng [ 7 ] :

Trên thực tế, có những lý do chính đáng tại sao hôn nhân đồng tính không nên được hợp pháp hóa.

Sự phản đối hôn nhân đồng tính mang một ý nghĩa tiêu cực vì những người ủng hộ đã đóng khung thành công vấn đề này thành một trong những “quyền bình đẳng”. Theo logic này, nếu bạn phản đối hôn nhân đồng tính, bạn đang phản đối quyền bình đẳng cho tất cả mọi người. Nhưng có phải tất cả mọi người đều có quyền kết hôn với bất cứ ai mà họ muốn? Không; tiểu bang có luật điều chỉnh kết hôn, cấm anh em họ gần kết hôn, anh chị em ruột kết hôn, cha mẹ kết hôn với con cái, người kết hôn với động vật… và nhiều dạng cấm khác.

Tại sao chính phủ khuyến khích một số loại hôn nhân trong khi cấm loại hôn nhân khác? Lý do là nam và nữ, khi lập gia đình, có nhiều khả năng sinh sản và nuôi dạy trẻ em, do đó đảm bảo sự duy trì xã hội. Các loại hôn nhân bị cấm vì lý do tương tự: con cháu của các gia đình này có nhiều khả năng bị còi cọc, do đó không thể tiếp tục sự phát triển của xã hội, hoặc khiến xã hội bị suy thoái.

Rõ ràng là, ở thời điểm này, hôn nhân đồng tính rơi vào trường hợp này. Cặp đôi đồng tính không thể sinh sản, có nghĩa là không có lợi ích xã hội để công nhận hôn nhân của họ. Điều này có liên quan đến các cuộc tranh luận xung quanh hôn nhân đồng tính bởi vì, trong các cặp đồng tính, trẻ em chắc chắn sẽ lớn lên mà không có người làm cha hoặc làm mẹ, do đó làm tăng nguy cơ của các tác động không may với trẻ em

Hôn nhân đồng tính không phải là một vấn đề quyền công dân; vấn đề chính là có tồn tại lợi ích xã hội đủ để Chính phủ khuyến khích hôn nhân đồng tính hay không? Khi mà các cặp vợ chồng đồng tính không thể sinh sản và, trên thực tế, có tiềm năng gây nguy hiểm cao hơn cho trẻ em, chính phủ cần duy trì lập trường rằng hôn nhân chỉ diễn ra giữa 2 người khác giới.

Năm 2013, nước Nga dưới thời Tổng thống Vladimir Putin đã đề ra bộ luật cấm mọi hình thức tuyên truyền về đồng tính luyến ái và hôn nhân đồng tính[8]. Bộ luật cấm những sự kiện cổ vũ cho người đồng tính, quy định việc cung cấp những thông tin “tuyên truyền việc về đồng tính nữ, lưỡng tính và chuyển giới” cho trẻ vị thành niên là phạm pháp, đồng thời các sự kiện cổ vũ cho quan hệ đồng tính cũng bị cấm. Đây là một nỗ lực nhằm tuyên dương những giá trị truyền thống của nước Nga và chống lại trào lưu cổ vũ đồng tính luyến ái, đòi hợp pháp hóa hôn nhân đồng tính, vốn đang làm băng hoại giới trẻ và phá hủy nền tảng luân lý gia đình của nước Nga, khiến nước Nga suy yếu[9] 88% người dân Nga được phỏng vấn đã bày tỏ ủng hộ đối với lệnh cấm. Bên cạnh đó, từ năm 2015, quốc hội Nga đã đề ra Ngày tình yêu gia đình để tập hợp các chiến dịch tuyên truyền bảo vệ giá trị gia đình truyền thống, ngăn chặn sự truyền bá của các nhóm hoạt động đồng tính, các tổ chức phi chính phủ đòi hợp pháp hóa hôn nhân đồng tính[10]. Tổng thống Nga Vladimir Putin lý giải: chính sách cấm tuyên truyền đồng tính luyến ái, bảo tồn truyền thống hôn nhân 1 nam – 1 nữ chính là để bảo vệ tương lai của nước Nga, tránh nạn lão hóa dân số mà Tây Âu đang phải gánh chịu:

“Người châu Âu đang thoái hóa dần (do lão hóa dân số)… và hôn nhân đồng tính không thể tạo ra trẻ em”, “chúng tôi có sự lựa chọn cho riêng chúng tôi (nước Nga), và chúng tôi đã làm thế vì đất nước của chúng tôi”

Nhà điều tra và nghiên cứu Alexander Lapin lý giải tại sao lại cần phải ngăn ngừa hôn nhân đồng tính để bảo vệ nòi giống và tương lai của quốc gia [ 11 ] :

Mục đích của những người ủng hộ hành vi tình dục đồng tính và hôn nhân đồng tính – đó là làm suy yếu hệ thống miễn dịch của quốc gia…
Điều gì là tốt và những gì là xấu? Gia đình là gì? Quê hương là gì? Trẻ em nên nhận được một thông điệp rõ ràng về gia đình thông qua các phương tiện truyền thông, rằng mục tiêu cuộc sống của các em – là xây dựng một gia đình, phục vụ cộng đồng, sinh sản ra thế hệ tương lai cho Tổ quốc. Do đó, việc thúc đẩy đồng tính luyến ái, cũng như bất kỳ hình thức khác của sự vô đạo đức về tình dục là không tương thích với sự phục hưng của nước Nga. Điều này là trái với bản chất của đạo đức và tinh thần yêu nước truyền thống.
Nước Nga đã phải đối mặt với những vấn đề nghiêm trọng, mà cuối cùng có thể gây nguy hiểm cho sự tồn tại của các quốc gia. Đó không chỉ là tham nhũng và một nền kinh tế kém hiệu quả. Đó còn là già hóa dân số, suy thoái tinh thần và đạo đức, cũng như sự hỗn loạn về lý tưởng cống hiến. Vì vậy, để xây dựng một nhà nước mạnh, có sức cạnh tranh tốt, chúng ta cần phải có, trước hết, các định hướng đạo đức cho xã hội và gia đình… Các vấn đề an ninh thông tin của nhà nước phải được hướng dẫn bởi một mục tiêu chung – bảo vệ trẻ em và tổ chức của gia đình truyền thống như các giá trị tối cao
Việc bảo vệ quyền lợi của các nhóm LGBT ở Nga có sự tiếp sức từ bàn tay của các nhà tài trợ phương Tây. Không phải ngẫu nhiên khi Hillary Clinton cho biết rằng Mỹ sẽ “bảo vệ quyền lợi người đồng tính trên toàn thế giới”. Nước Mỹ trong chính sách đối ngoại nói chung rất thích chiêu bài “bảo vệ các nhóm thiểu số” (tôn giáo, dân tộc, chính trị và xu hướng tình dục), qua đó Mỹ ngầm làm giảm đi bản sắc của các dân tộc, chế giễu lịch sử và văn hóa của họ. Và đồng tính luyến ái – được tuyên truyền phương Tây coi là “nét đẹp văn hóa”, thay vì sự lệch lạc. Tất cả vì một mục tiêu – làm suy yếu hệ thống miễn dịch của quốc gia.

Trong Lịch sử hôn nhân của con người (1891), Edvard Westermarck đã định nghĩa hôn nhân là “mối liên hệ ít nhiều bền vững giữa nam và nữ kéo dài vượt ra ngoài hành động truyền bá đơn thuần cho đến sau khi sinh con.” [12] Trong cuốn Tương lai của hôn nhân trong văn minh phương Tây (1936), ông định nghĩa lại hôn nhân là “mối quan hệ của một hoặc nhiều đàn ông với một hoặc nhiều phụ nữ được công nhận bởi luật pháp hoặc tập quán”.[13]

Cẩm nang nhân chủng học Ghi chú và Truy vấn (1951) định nghĩa hôn nhân là “sự kết hợp giữa một người đàn ông và một người phụ nữ mà những đứa trẻ sinh ra từ người phụ nữ là con đẻ hợp pháp được công nhận của cả hai đối tác”.[14]

Trong một bài báo năm 1997 trên Nhân chủng học hiện nay, Duran Bell mô tả hôn nhân là “mối quan hệ giữa một hoặc nhiều người (nam hoặc nữ) trong đó một hoặc nhiều phụ nữ cho những người đó quyền tiếp cận tình dục trong một nhóm người cùng nhà và xác định những người phụ nữ có nghĩa vụ thỏa mãn những yêu cầu của những người đàn ông cụ thể đó. ” Khi đề cập đến “một hoặc nhiều đàn ông”, Bell đang đề cập đến các nhóm thân nhân gần gũi như chung dòng tộc, mà một khi đã trả tiền mua cô dâu, sẽ giữ quyền sở hữu con cái của người phụ nữ ngay cả khi chồng cô (một thành viên trong dòng tộc) chết đi (hôn nhân Levirate). Nói đến “người (nam hay nữ)”, Bell đang đề cập đến những người phụ nữ khác trong dòng tộc có thể là “người mẹ xã hội” của những đứa con của người vợ được sinh ra với những người tình khác.[15]

Các cá thể hoàn toàn có thể kết hôn vì một số ít nguyên do, gồm có những mục tiêu pháp lý, xã hội, tự nguyện, tình cảm, kinh tế tài chính, niềm tin và tôn giáo. Người mà họ kết hôn hoàn toàn có thể bị tác động ảnh hưởng bởi giới tính, những quy tắc xã hội về loạn luân, quy tắc hôn nhân theo lao lý, lựa chọn của cha mẹ và mong ước cá thể. Ở một số ít khu vực trên quốc tế, hôn nhân sắp xếp, hôn nhân trẻ nhỏ, đa thê và nhiều lúc là cưỡng hôn, hoàn toàn có thể được triển khai như một truyền thống lịch sử văn hóa truyền thống. trái lại, những hành vi như vậy hoàn toàn có thể bị đặt ra ngoài vòng pháp lý và bị phạt ở nhiều nơi trên quốc tế vì quan ngại về việc xâm phạm quyền của phụ nữ hoặc quyền trẻ nhỏ ( cả nữ và nam ) hoặc do pháp luật quốc tế. [ 16 ]Hôn nhân hoàn toàn có thể được công nhận bởi một nhà nước, một tổ chức triển khai, một cơ quan tôn giáo, một nhóm bộ lạc, một hội đồng địa phương hoặc những đồng nghiệp. Nó thường được xem như một hợp đồng. Khi một cuộc hôn nhân được triển khai và thực thi bởi một tổ chức triển khai chính phủ nước nhà theo luật hôn nhân của khu vực tài phán, không có nội dung tôn giáo, đó là một cuộc hôn nhân dân sự. Hôn nhân dân sự thừa nhận và tạo ra những quyền và nghĩa vụ và trách nhiệm nội tại so với hôn nhân trong mắt nhà nước. Khi một cuộc hôn nhân được triển khai với nội dung tôn giáo dưới sự bảo trợ của một tổ chức triển khai tôn giáo, đó là một cuộc hôn nhân tôn giáo. Hôn nhân tôn giáo thừa nhận và tạo ra những quyền và nghĩa vụ và trách nhiệm nội tại so với hôn nhân trong mắt của tôn giáo đó. Hôn nhân tôn giáo được gọi khác nhau là hôn nhân bí tích trong Công giáo, nikah trong Hồi giáo, nissuin trong Do Thái giáo, và nhiều tên khác trong những truyền thống lịch sử đức tin khác, và với mỗi tôn giáo có những ràng buộc riêng về những gì tạo nên một cuộc hôn nhân tôn giáo được coi là hợp lệ .Hôn nhân thường tạo ra quy phạm nghĩa vụ và trách nhiệm hoặc pháp lý giữa những cá thể tương quan, và con cháu mà hôn nhân tạo ra hoặc được nhận nuôi. Về mặt công nhận pháp lý, hầu hết những nước có chủ quyền lãnh thổ đã hạn chế hôn nhân chỉ với những cặp vợ chồng khác giới và 1 số ít ít những vương quốc được cho phép đa phu đa thê, tảo hôn, và hôn nhân cưỡng bức .Một số vương quốc không công nhận hôn nhân tôn giáo được thực thi tại địa phương và nhu yếu một cuộc hôn nhân pháp lý chính thức. trái lại, hôn nhân dân sự không sống sót ở một số ít vương quốc được quản trị bởi một mạng lưới hệ thống pháp lý tôn giáo, ví dụ điển hình như Ả Rập Xê Út, nơi hôn nhân ký kết ở quốc tế không được công nhận nếu chúng trái với cách lý giải của luật Hồi giáo. Ở những vương quốc được quản trị bởi một mạng lưới hệ thống pháp lý tôn giáo thế tục hỗn hợp, ví dụ điển hình như ở Lebanon và Israel, hôn nhân dân sự tại địa phương không sống sót, điều này ngăn cản hôn nhân không cùng tôn giáo và nhiều hôn nhân khác trái ngược với luật tôn giáo của vương quốc đó ; tuy nhiên, những cuộc hôn nhân dân sự được triển khai ở quốc tế hoàn toàn có thể được nhà nước công nhận ngay cả khi chúng xích míc với luật tôn giáo .Từ cuối thế kỷ XX, những biến hóa xã hội lớn ở những nước phương Tây đã dẫn đến những đổi khác về nhân khẩu học của hôn nhân, với tuổi khi kết hôn tiên phong ngày càng tăng, ít người kết hôn và nhiều cặp vợ chồng chọn sống chung hơn là kết hôn. Ví dụ, số lượng những cuộc hôn nhân ở châu Âu đã giảm 30 % từ năm 1975 đến năm 2005. [ 17 ]

Các kiểu hôn nhân[sửa|sửa mã nguồn]

 Nhiều vợ nhiều chồng hoàn toàn bất hợp pháp/bị bãi bỏ, nếu vi phạm sẽ bị pháp luật xử phạt

 Tình trạng hợp pháp không rõ

 Nhiều vợ nhiều chồng nhìn chung là không hợp pháp, nhưng thực tế thì không hình sự hóa hoàn toàn

 Chấp nhận hôn nhân nhiều vợ nhiều chồng

Chú thích: 1Philippines, Singapore, Sri Lanka: không hợp pháp ở tất cả các dạng trừ người theo Đạo Hồi.
2Liên bang Eritrea: luật cấm hôn nhân nhiều vợ nhiều chồng nhưng một số nước và vùng lãnh thổ nhất định với Sharia cho phép nó. Người theo Đạo Hồi chỉ có thể có hợp hờng hôn nhân đa thê.
3Mauritius: nhiều vợ nhiều chồng không được công nhận hợp pháp. Đàn ông Đạo Hồi có thể “cưới” đến 4 vợ, những người phụ nữ này không được hưởng tư cách pháp lý của người vợ.

Một vợ một chồng[sửa|sửa mã nguồn]

Hôn nhân một vợ – một chồng là một hình thức hôn nhân giữa 1 nam và 1 nữ, trong đó mỗi cá thể chỉ có một người hôn phối trong suốt cuộc sống của họ hoặc tại thời gian đang xét đến. Đây là hình thức hôn nhân cơ bản và thông dụng nhất, được đồng ý ở mọi nơi trên quốc tế .Một điều tra và nghiên cứu so sánh về hôn nhân của nhà nhân chủng học Jack Goody trên quốc tế sử dụng Ethnographic Atlas đã phát hiện một mối đối sánh tương quan ngặt nghèo giữa của hồi môn, nông nghiệp cày cấy thâm canh và chính sách hôn nhân một vợ một chồng. Hình thức này được tìm thấy trong một khu vực to lớn của những xã hội từ châu Á sang châu Âu, từ Nhật Bản đến Ireland. Phần lớn những xã hội châu Phi cận Sahara thực thi nông nghiệp du canh du cư, thì ngược lại, biểu lộ mối đối sánh tương quan giữa ” Bride price ” và một vợ một chồng. [ 18 ] Một nghiên cứu và điều tra sâu thêm đã vẽ thêm vào Át-lát nhân chủng học bộc lộ đối sánh tương quan thống kê giữa sự ngày càng tăng kích cỡ của xã hội, sự tin yêu vào ” những đấng thánh tối cao ” để tương hỗ cho đạo đức con người, và chính sách hôn nhân một vợ một chồng. [ 19 ]

Hôn nhân đa thê[sửa|sửa mã nguồn]

Các xã hội biểu lộ sự gật đầu khác nhau về đa thê như một ý niệm về văn hóa truyền thống và thực tiễn. Theo Ethnographic Atlas, trong số 1.231 xã hội được ghi nhận, 186 là chỉ gật đầu một vợ một chồng ; 453 đồng ý hôn nhân đa thê ; 588 có đa thê nhưng ít tiếp tục hơn ; và 4 có hôn nhân đa phu. [ 20 ]Tuy nhiên, theo Miriam Zeitzen, sự gật đầu của một xã hội về đa thê thì khác với việc thực thi đa thê, vì nó yên cầu sự giàu sang của người chồng để hoàn toàn có thể nuôi được một mái ấm gia đình có nhiều vợ. Thực tế trong một xã hội như vậy, với phần nhiều những người mong ước đa thê lại thực thi chính sách hôn nhân một vợ một chồng. Việc đa thê thì phức tạp hơn ở những nước mà chính sách hôn nhân này bị cấm, nhưng vẫn liên tục diễn ra. [ 21 ]

Nhiều vợ nhiều chồng[sửa|sửa mã nguồn]

Nhiều vợ nhiều chồng là một hình thức hôn nhân mà một cuộc hôn nhân có hơn 2 người tham gia hôn phối.[22] Khi người đàn ông cùng một lúc có hơn một vợ, thì mối quan hệ này được gọi là đa thê, và khi không có ràng buộc hôn nhân giữa các người vợ; và khi một người phụ nữ cùng một lúc có hơn một chồng, thì được gọi là đa phu, và không có ràng buộc hôn nhân giữa các người chồng. Nếu cuộc hôn nhân bao gồm nhiều vợ và chồng thì được gọi là hôn nhân nhóm (group marriage).[22]

Hôn nhân đồng tính[sửa|sửa mã nguồn]

Một thực tế tương đối mới là các căp cùng giới tính về mặt luật pháp như những cặp hôn nhân khác giới. Cộng hòa Rome không cấm quan hệ đồng tính. Sự chấp nhận này đã kết thúc dưới đế chế La Mã, Khi Theodosian Code ( C. Th 9.7.3) phê chuẩn năm 342 áp đặt hình phạt nặng hoặc tử hình đối với quan hệ đồng tính[23] nhưng mục đích chính xác của pháp luật và mối quan hệ với thực tiễn xã hội không rõ ràng, ví dụ trên chỉ là một trong vài ví dụ về hôn nhân đồng tính trong văn hóa đã tồn tại.[24]

Hôn nhân tạm[sửa|sửa mã nguồn]

Ở Nước Ta[sửa|sửa mã nguồn]

Hiến pháp Việt Nam năm 2013 quy định: “Hôn nhân là sự kết hợp đặc biệt dựa trên nguyên tắc bình đẳng, tiến bộ, một vợ một chồng nhằm xây dựng gia đình hòa thuận, hạnh phúc và bền vững”.

Theo nguyên tắc này tại hiến pháp, vợ – chồng tại Việt Nam bình đẳng với nhau trước pháp luật. Đồng thời, nguyên tắc một vợ – một chồng có nghĩa rằng các dạng thức hôn nhân khác như đa thê (nhiều vợ – một chồng) hoặc hôn nhân đồng tính (không có vợ hoặc không có chồng) là vi hiến và pháp luật Việt Nam không công nhận.

Hôn nhân được khởi đầu bằng một sự kiện pháp lý là đăng ký kết hôn và kết thúc bằng một sự kiện pháp lý là ly hôn ( hoặc một trong hai người qua đời / mất tích ) .

Liên kết ngoài[sửa|sửa mã nguồn]

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.