Quản lí dư lượng thuốc BVTV trong đất

Quản lí dư lượng thuốc BVTV trong đất

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (417.54 KB, 8 trang )

BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
KHOA NÔNG HỌC

TIỂU LUẬN MÔN HỌC
QUẢN LÝ DƯ LƯỢNG THUỐC BẢO VỆ
THỰC VẬT
ĐỀ TÀI: DƯ LƯỢNG THUỐC BẢO VỆ THỰC VẬT TRONG NƯỚC
Ở VIỆT NAM. THỰC TRẠNG VÀ PHƯƠNG HƯỚNG GIẢI QUYẾT
SINH VIÊN THỰC HIỆN: NGUYỄN HƯƠNG GIANG
MSV: 580132
LỚP: K58-BVTVB

HÀ NỘI, 2016

MỞ ĐẦU:
Việt Nam là một đất nước với nền nông nghiệp chiếm tỉ trọng lớn trong nền kinh tế, sản
xuất nông nghiệp là trọng điểm, cùng với đó là những điều kiện lý tưởng cho sự phát triển
không chỉ với cây trồng mà còn với cả các loài dịch hại. Lẽ dĩ nhiên, thuốc bảo vệ thực vật ra
đời nhằm mục đích bảo vệ cây trồng tránh được những tác động xấu của dịch hại, giúp tăng
năng suất cho cây trồng, đem lại lợi ích kinh tế cho nhà nông. Tuy nhiên, việc lạm dụng
thuốc bảo vệ thực vật trong sản xuất nông nghiệp cũng như rất nhiều các nguyên nhân khác
liên quan đã gây ra những hậu quả rất lớn, mà điển hình là ô nhiễm môi trường. Một trong số
các nguồn tài nguyên quan trọng và thiết yếu với con người là nguồn nước cũng đang bị đe
dọa nghiêm trọng bởi thuốc bảo vệ thực vật. Rất nhiều người dân đang dần trở nên lo lắng về
chất lượng nguồn nước mà họ đang sử dụng hằng ngày, ngày càng nhiều bệnh nhân mắc bệnh
ung thư do tiếp xúc với nguồn nước bị ô nhiễm bởi hóa chất bảo vệ thực vật. Vậy những
nguyên nhân nào từ việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật dẫn đến ô nhiễm nguồn nước, trách
nhiệm của các cơ quan chức năng và phương hướng giải quyết vấn đề này ra sao?.. Để trả lời
cho những câu hỏi trên, em đã tìm hiểu về đề tài : “ Dư lượng thuốc bảo vệ thực vật trong

nước ở Việt Nam. Thực trạng và phương hướng giải quyết.”
II.
NỘI DUNG:
1. Thực trạng về sự tồn dư thuốc bảo vệ thực vật hiện nay:
a. Thực trạng sử dụng thuốc bảo vệ thực vật:
I.

Sau cách mạng xanh năm 1950, việc sản xuất và sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật phát
triển và trở nên phổ biến, thuốc BVTV được xem như “thần dược” đối với các loại cây trồng
nông nghiệp với khả năng diệt trừ được hiệu quả các loại sâu bệnh hại, cỏ dại…v..v..Rẻ tiền,
không tốn sức, hiệu quả nhanh chóng, thuốc BVTV được sử dụng như một công cụ tất yếu
để diệt trừ dịch hại.
Trong sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam các loại thuốc BVTV đã được sử dụng từ nhiều
năm trước đây. Tuy nhiên thời kỳ đó, do tình hình phát sinh, phát triển của sâu hại, dịch bệnh
diễn biến chưa phức tạp nên số lượng và chủng loại thuốc bảo vệ thực vật còn chưa nhiều.
Ngày đó do thiếu thông tin và do chủng loại thuốc BVTV còn nghèo nàn nên người nông dân
đã sử dụng nhiều loại thuốc BVTV có độc tính cao, tồn lưu lâu trong môi trường. Những
năm gần đây, do thâm canh tăng vụ, tăng diện tích, do thay đổi cơ cấu giống cây trồng nên
tình hình sâu bệnh diễn biến phức tạp hơn. Do đó, số lượng và chủng loại thuốc BVTV sử
dụng cũng tăng lên. Nếu như trước năm 1985 khối lượng thuốc BVTV dùng hàng năm
khoảng 6.500 đến 9.000 tấn thành phẩm thì thời gian từ năm 1991 đến nay lượng thuốc sử
dụng biến động từ 25- 38 ngàn tấn. Theo thống kê của ngành chức năng, từ năm 2000 đến
nay, mỗi năm Việt Nam sử dụng khoảng từ 35.000 đến hơn 100 nghìn tấn hóa chất bảo vệ
thực vật. Đặc biệt năm 2006 lượng thuốc BVTV nhập khẩu là 71.345 tấn.

Năm
1991
2000
2005

2009

Tổng khối lượng (tấn thành phẩm)
20.300
33.637
51.764
79.896

Bảng 1. Lượng thuốc BVTV đã sử dụng ở Việt Nam
Không chỉ dừng lại ở việc sử dụng số lượng lớn thuốc BVTV, tình trạng sử dụng sai quy
định, không tuân thủ theo nguyên tắc 4 đúng như: dùng thuốc không rõ nguồn gốc, thuốc
không có trong danh mục, dùng quá liều lượng, vứt bỏ bao bì, hộp đựng thuốc ra môi trường
bên ngoài mà không qua xử lí…cũng đang trở nên khó quản lí, dẫn đến gia tăng dư lượng
thuốc có trong môi trường, đặc biệt là môi trường nước. Theo văn phòng ban chỉ đạo 33, kết
quả kiểm tra tình hình sử dụng thuốc BVTV trên rau của 4600 hộ nông dân năm 2006 cho
thấy có tới 59,8 % số hộ vi phạm về quy trình sử dụng thuốc, sử dụng thuốc cấm, thuốc ngoài
danh mục: 10,31%; sử dụng thuốc không rõ nguồn gốc, xuất xứ: 0,73%. Mặt khác, theo đánh
giá của các cơ quan chức năng, trong các bao bì, chai lọ đựng thuốc bảo vệ thực vật đã qua
sử dụng, lượng thuốc còn sót lại không hề nhỏ, gần 2%, do đó, với một lượng lớn thuốc được
sử dụng như hiện nay, lượng thuốc còn sót lại trong bao bì là không hề nhỏ, trong khi thói
quen của bà con khi sử dụng thuốc BVTV vẫn là vứt tại ruộng, không cần xử lí.
Đi kèm với một số lượng lớn thuốc BVTV được sử dụng trong những năm gần đây chính
là một số lượng không nhỏ những nhà máy sang chiết, đóng gói thuốc, kho chứa thuốc
BVTV tồn tại, và đặc biệt vẫn còn nhiều nơi nằm trong khu dân cư. Theo Thông tấn xã Việt
Nam, trong 289 kho hóa chất bảo vệ thực vật tồn lưu, hiện đang lưu giữ khoảng 217 tấn
37.000 lít hóa chất bảo vệ thực vật và 29 tấn bao bì (trong đó có nhiều loại bao bì, vỏ chai,
thùng phuy chứa đựng hóa chất bảo vệ thực vật không có nhãn mác, nguồn gốc xuất xử chủ
yếu gồm các loại hóa chất: DDT, Basal, Lindan, thuốc diệt chuột, gián, muỗi của Trung
Quốc, Vinizeb-Exho, Xibuta, Kayazinno, Hinossan,…). Theo các kết quả điều tra của Bộ
Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn và Tổng cục Môi trường, thuốc bảo vệ thực vật hiện

còn tồn lưu ở Việt Nam chủ yếu là DDT (lẫn với Lindan). Đây là những loại hóa chất còn tồn
lưu tại các kho từ trước năm 1990. Với điều kiện bảo quản còn bất cập, thậm chí nhiều kho
thuốc BVTV tìm cách xử lí bằng cách chôn lấp trong lòng đất dẫn đến những hậu quả khôn
lường khi một số lượng lớn hóa chất đôc hại bị chôn lấp nhiễm vào nguồn nước ngầm, nguồn
nước sinh hoạt của người dân.
b. Thực trạng về sự tồn dư thuốc BVTV hiện nay:
Với số lượng lớn thuốc BVTV được sử dụng hàng năm cùng với các kho chứa thuốc
BVTV được phân bố tại nhiều nơi trên cả nước vẫn chưa được xử lí… việc tồn dư lại thuốc
BVTV trong đất, trong nước là điểu khó tránh khỏi. Hiện nay, phần lớn các khu vực bị ô

nhiễm lại đang nằm lẫn trong khu dân cư hay các khu vực đất ruộng đang được canh tác.
Những khu vực ô nhiễm này có diện tích từ vài chục mét vuông cho đến cả hàng ngàn mét
vuông; chiều sâu đất ô nhiễm từ 0,5m – 3m. Theo đánh giá của Cục Quản lý chất thải và cải
thiện môi trường- Tổng cục Môi trường thì ô nhiễm môi trường do tồn lưu hóa chất bảo vệ
thực vật đang là một vấn đề môi trường hết sức nghiêm trọng. Đây là những hợp chất hữu cơ
độc hại đứng đầu danh sách 12 loại độc chất nguy hiểm, tồn tại rất bền trong môi trường nên
rất khó để phân hủy sinh học. Trong đó, chủ yếu lại là các loại hóa chất thuộc nhóm POPs
như:
DDT,
666,
Aldrin…
Những hóa chất này có thể trôi theo nước mưa và ngấm sâu vào nguồn nước sinh hoạt nước
uống. Theo Hải Yến, 2015, trong danh mục điểm tồn lưu hóa chất bảo vệ thực vật gây ô
nhiễm môi trường nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng theo Quyết định số 1946 của Thủ
tướng Chính phủ, hiện cả nước còn có 15 tỉnh với 240 điểm tồn lưu hóa chất bảo vệ thực vật.
Đặc biệt, ở hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh hiện chiếm trên 60% số điểm nằm trong danh mục
100 khu vực ô nhiễm đặc biệt nghiêm trọng do tồn lưu hóa chất bảo vệ thực vật. Vấn đề nan
giải nhất tại các điểm tồn lưu thuốc bảo vệ thực vật ở Việt Nam là các hóa chất này đã bị
chôn lấp, rò rỉ, rơi vãi trong quá trình vận chuyển… không phù hợp tiêu chuẩn. Do đó, công

việc quản lý môi trường tại những điểm này sẽ phải tập trung vào nội dung cải tạo, xử lý triệt
để nhằm phục hồi các khu vực bị ô nhiễm để đưa hiện trạng của đất và nguồn nước ngầm trở
về được trạng thái ban đầu. Tuy nhiên, hiệu quả đến đâu lại đang lệ thuộc vào mức độ đầu tư
kinh phí ra sao cho công tác này.
Theo một số chuyên gia, khi đánh giá về các điểm ô nhiễm tồn lưu hóa chất bảo vệ thực
vật đã cho biết việc xử lý các loại hóa chất bảo vệ thực vật tồn lưu còn lưu trữ ở trong kho
tương đối đơn giản; song việc cải tạo và phục hồi các khu vực bị ô nhiễm lại rất phức tạp và
tốn kém. Chẳng hạn nếu như xử lý 1kg hóa chất tồn lưu chỉ cần 2 USD, nhưng phải cần tới
20 USD để xử lý 1kg hóa chất nếu bị rò rỉ vào vùng đất bề mặt; khi 1kg hóa chất bị thấm
xuống tầng đất dưới cần tới 200 USD để xử lý thì nếu 1 kg hóa chất đã ngấm xuống nguồn
nước ngầm thì sẽ phải sử dụng tới 2.000 USD để xử lý. Như vậy, cùng với vấn đề kinh phí,
ngay cả thời gian để xử lý những hóa chất độc hại này cũng tăng lên rất nhiều lần khi mà
những hóa chất ấy đã bị phân tán ra môi trường.
Cho đến nay, vẫn chưa có nhiều nghiên cứu và công bố về dư lượng thuốc BVTV trong
nguồn nước, tất cả mới chỉ dừng lại ở các cảnh báo từ các phương tiện truyền thông, do đó,
nhiều người dân vẫn còn có tâm lý chủ quan,chưa nhận thức được sự nguy hại từ tồn dư
thuốc BVTV trong nước, tình trạng sống chung với hóa chất độc hại vẫn diễn ra hàng ngày ở
những vùng bị ô nhiễm.
c. Ảnh hưởng của dư lượng thuốc BVTV trong nước đến môi sinh, môi trường:
Thuốc BVTV được con người sử dụng với mục đích bảo vệ cây trồng khỏi các yếu tố gây
bất lợi cho sự phát triển của chúng như: sâu hại, nấm hại, cỏ dại… Việc còn tồn tại dư lượng
thuốc là cần thiết để có thể ngăn cản sự tấn công của dịch hại lên cây trồng. Tuy nhiên, dù có
xử lí bằng phương pháp nào thì cuối cùng thuốc BVTV cũng sẽ đi vào đất và ngấm xuống
các tầng đất khác nhau rồi cuối cùng ngấm xuống mực nước ngầm, hoặc thuốc có thể theo
dòng chảy trực tiếp từ ruộng vào ao, hồ. Do đó, những ảnh hưởng xấu do dư lượng thuốc
trong nước gây ra là:

Tạo ra môi trường bất lợi cho các loài sinh vật khác trong hệ sinh thái, thậm
chí là tiêu diệt cả các loài không phải là đối tượng dịch hại cần phòng trừ.
VD: việc dùng thuốc diệt ốc bươu vàng đã làm ảnh hưởng và làm chết nhiều
loài động vật thủy sinh khác như cá, tôm, cua…do dư lượng thuốc từ ruộng
chảy ra các kênh mương hoặc hồ nuôi trồng. Việc tồn dư thuốc trừ cỏ từ vụ
trước có thể ngăn cản quá trình nảy mầm của hạt…
• Dư lượng thuốc BVTV ngấm vào nước ngầm, gây ô nhiễm nguồn nước, gây
độc cho người sử dụng. VD: theo trang Thanhhoaplus.net, làng ung thư tại
xã Định Liên, huyện Yên Định (Thanh Hóa), hàng năm có rất nhiều người
chết vì ung thư, nguyên nhân ban đầu được xác định do sử dụng quá nhiều
thuốc BVTV dạng DDT,666…nên dẫn đến nhiễm đọc asen cho nguồn nước.
Một ví dụ khác về tác động khôn ường của dư lượng thuốc BVTV trong nước
đến con người, theo báo tài nguyên và môi trường đó là làng Cờ Đỏ, xã Diễn
Hải, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An, một trong số 10 làng ung thư đã được
công bố trên cả nước, cũng có số người chết vì ung thư lên đến hàng chục
người chỉ trong thời gian ngắn. Nguyên nhân cũng được xác nhận là ngay
trong khu vực dân cư của làng có một kho chứa thuốc BVTV đã tồn tại được
hơn 20 năm…
2. Nguyên nhân gây tồn dư thuốc BVTV trong nước:
Dư lượng thuốc BVTV bao gồm bất kì dẫn xuất nào của thuốc cũng như các sản phẩm
chuyển hóa của chúng có thể gây độc cho môi sinh, môi trường.

Dư lượng thuốc BVTV trong nước có thể có do những nguyên nhân chính sau:

Do thuốc BVTV từ đất thẩm thấu xuống mực nước ngầm, dẫn đến nước

ngầm có nhiễm tồn dư của thuốc BVTV. Đất nhiễm thuốc BVTV có thể là
đất canh tác có sử dụng thuốc BVTV, hoặc nơi chứa thuốc BVTV bị rò rỉ
ra ngoài, thẩm thấu xuống các tầng đất dưới và mạch nước ngầm…

Các kho chứa thuốc BVTV bị rò rỉ hoặc thuốc bị chôn lấp có thể bị
ngấm xuống đất và nhiễm độc cho mạch nước ngầm
(nguồn: baotainguyenmoitruong.vn)
Do thuốc BVTV được nhiễm trực tiếp vào nguồn nước như: dùng thuốc
trực tiếp vào nước, thuốc còn dư trong các bao bì chứa thuốc BVTV bị vứt
vào nguồn nước, thuốc bị xả ra môi trường trong các nhà máy sang chiết,
đóng gói thuốc BVTV…

Dư lượng thuốc BVTV trong nước cũng có thể bắt nguồn từ việc vứt
bỏ bừa bãi bao bì chứa thuốc BVTV

( nguồn: internet )
3. Phương hướng giải quyết:
• Nhà nước cần có các biện pháp quản lí chặt chặt chẽ việc nhập khẩu, sử dụng thuốc
BVTV nhằm kiểm soát được loại thuốc cũng như lượng thuốc BVTV đang được sử dụng
hiện nay.
• Quản lí, xử lí triệt để các cơ sở sang chiết, đóng gói thuốc BVTV, các kho chứa thuốc
BVTV không đạt tiêu chuẩn. Các cơ sở trên cần được đảm bảo về cơ sở vật chất phù hợp
cho khâu đóng gói, bảo quản thuốc BVTV.
• Ban hành luật, các văn bản pháp luật về vẫn đề sử đụng thuốc BVTV, có chế tài xử phạt
thích đáng cho những cá nhân vi phạm trong lĩnh vực BVTV
• Nhà nước cần có sự đầu tư cho việc xử lí nguồn nước cho các khu vực bị nhiễm hóa chất
BVTV, cần có chế độ ưu đãi, hỗ trợ cho các chương trình sản xuất và ứng dụng các sản
phẩm hữu cơ, vi sinh vào công tác phòng trừ sinh vật gây hại tài nguyên thực vật. Chọn
lọc các loại thuốc, dạng thuốc BVTV an toàn có tính chọn lọc cao, phân giải nhanh trong

môi trường.
• Đẩy mạnh việc áp dụng các tiến bộ kỹ thuật trong trồng trọt, nâng cao hiểu biết của người
nông dân trong việc sử dụng thuốc BVTV an toàn và có hiệu quả từ đó giảm lượng thuốc
BVTV sử dụng. Chú trọng việc thu gom và xử lý bao bì thuốc BVTV sau sử dụng. Duy trì
và mở rộng việc áp dụng IPM vì chương trình này không chỉ tiết kiệm chi phí cho việc
mua thuốc BVTV mà còn góp phần làm giảm thiểu ô nhiễm môi trường
• Tuyên truyền, tập huấn, nâng cao ý thức bà con nông dân trong việc sử dụng thuốc BVTV
cũng như ý thức của người sản xuất và kinh doanh thuốc BVTV. Xây dựng các nơi tập
trung bao bì thuốc BVTV để xử lí theo đúng quy định.
III.
THẢO LUẬN
Thông qua những nội dung vừa nêu trên, em có rút ra một vài ý kiến thảo luận như sau:
 Việc tồn dư hóa chất BVTV trong nước, đặc biệt là nguồn nước sinh hoạt đang là
một thực trạng đáng báo động hiện nay. Tuy nhiên, dường như các cơ quan chức
năng vẫn còn lúng túng, thiếu tính chặt chẽ và đồng bộ trong khâu quản lí và xử lí
các khu vực bị ô nhiễm. Phải chăng họ đang thờ ơ hoặc chủ quan trước những
nguy hại mà người dân đang phải đối mặt. Nhà nước cần phải có những động thái
quyết liệt, đúng đắn để giải quyết thực trạng nhiễm độc, tồn dư hóa chất BVTV
trong môi trường, đặc biệt là môi trường nước vì nó tiếp xúc trực tiếp với người
dân hằng ngày.
 Nhiều công ty thuốc BVTV hiện nay vì lợi nhuận mà bất chấp những quy định
của pháp luật, bất chấp tính mạng, sức khỏe của những người xung quanh khi tự ý
xả thải chất độc không qua xử lí ra môi trường, hoặc chôn lấp thuốc BVTV hết
hạn, thuốc bị cấm sử dụng.. quanh khu dân cư. Điển hình như vụ việc của công ty
Nicotex Thanh Thái. Do đó, cần sự vào cuộc và xử lí mạnh tay từ phía các cơ
quan quản lí.
 Các phương hướng, cách giải quyết đối với dư lượng thuốc BVTV trong nước chỉ
đạt hiệu quả khi có sự chung tay của cả cộng đồng và việc nâng cao ý thực của
toàn xã hội. Đây không còn là vấn đề của riêng một khu vực mà là vấn đề của cả
xã hội. cần có sự nhận thức đúng đắn ngay từ bây giờ để kịp thời khắc phục, tránh

những ảnh hưởng xấu cho các thế hệ sau.

IV.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1.

Văn phòng ban chỉ đạo 33 – Sử dụng thuốc Bảo vệ thực vật và vấn đề ô nhiễm
môi trường. Ngày đăng : 04/06/2013. http://www.office33.gov.vn/su-dung-thuoc-bao-vethuc-vat-va-van-de-o-nhiem-moi-truong_120-99-vi-VN.aspx

2.

Thông tấn xã Việt Nam – Nỗ lực giải quyết hậu quả ô nhiễm do thuốc bảo vệ thực
vật :
http://cantho.gov.vn/wps/wcm/connect/sotnmt/sub+site/sitemenu/linhvucquanly/moitruon
g/no+luc+giai+quyet+hau+qua+o+nhiem+do+thuoc+bvtv

3.

Thanhhoaplus.net – Làng ung thư ở Thanh Hóa : Hoang mang nguồn nước nhiễm
độc: http://thanhhoaplus.net/2015/06/lang-ung-thu-o-thanh-hoa-hoang-mang-nguonnuoc-nhiem-doc/

4.

Báo điện tử bộ tài nguyên và môi trường – Nghệ An: Dân “sống mòn” ở “làng ung
thư” Cờ Đỏ, ngày đăng Thứ Ba, 05/05/2015, 14h:16p :
http://baotainguyenmoitruong.vn/suc-khoe-doi-song/201505/nghe-an-dan-song-mon-olang-ung-thu-co-do-583884/

5.

Báo Lào Cai điện tử – Ô nhiễm nguồn nước từ thuốc bảo vệ thực vật – Tất Đạt,
ngày đăng 03/08/2015 14:08 :http://baolaocai.vn/kinh-te/o-nhiem-nguon-nuoc-tu-thuocbao-ve-thuc-vat-z3n20150803140858622.htm

6.

Trang thông tin điện tử viện khoa học pháp lý – Ô nhiễm môi trường vì thuốc
BVTV – Hoàng Thế Phong ( sưu tầm ). http://khpl.moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/phap-luatve-bao-ve-moi-truong.aspx?ItemID=308

7.

TW hội nông dân Việt Nam – Thực trạng ô nhiễm do hóa chất thuốc BVTV tại
Việt Nam – Hải Yến, ngày đăng 25/11/2015, 14h13p.
http://mtnt.hoinongdan.org.vn/sitepages/news/1101/39819/thuc-trang-o-nhiem-do-hoachat-thuoc-bvtv-tai-viet-nam

8.

Bài giảng: Quản lý dư lượng thuốc BVTV – PGS.TS Nguyễn Văn Viên.

nước ở Nước Ta. Thực trạng và phương hướng xử lý. ” II.NỘI DUNG : 1. Thực trạng về sự tồn dư thuốc bảo vệ thực vật lúc bấy giờ : a. Thực trạng sử dụng thuốc bảo vệ thực vật : I.Sau cách mạng xanh năm 1950, việc sản xuất và sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật pháttriển và trở nên phổ cập, thuốc BVTV được xem như “ thần dược ” so với những loại cây trồngnông nghiệp với năng lực diệt trừ được hiệu suất cao những loại sâu bệnh hại, cỏ dại … v .. v .. Rẻ tiền, không tốn sức, hiệu suất cao nhanh gọn, thuốc BVTV được sử dụng như một công cụ tất yếuđể diệt trừ dịch hại. Trong sản xuất nông nghiệp ở Nước Ta những loại thuốc BVTV đã được sử dụng từ nhiềunăm trước đây. Tuy nhiên thời kỳ đó, do tình hình phát sinh, tăng trưởng của sâu hại, dịch bệnhdiễn biến chưa phức tạp nên số lượng và chủng loại thuốc bảo vệ thực vật còn chưa nhiều. Ngày đó do thiếu thông tin và do chủng loại thuốc BVTV còn nghèo nàn nên người nông dânđã sử dụng nhiều loại thuốc BVTV có độc tính cao, tồn lưu lâu trong môi trường tự nhiên. Nhữngnăm gần đây, do thâm canh tăng vụ, tăng diện tích quy hoạnh, do đổi khác cơ cấu tổ chức giống cây xanh nêntình hình sâu bệnh diễn biến phức tạp hơn. Do đó, số lượng và chủng loại thuốc BVTV sửdụng cũng tăng lên. Nếu như trước năm 1985 khối lượng thuốc BVTV dùng hàng nămkhoảng 6.500 đến 9.000 tấn thành phẩm thì thời hạn từ năm 1991 đến nay lượng thuốc sửdụng dịch chuyển từ 25 – 38 ngàn tấn. Theo thống kê của ngành công dụng, từ năm 2000 đếnnay, mỗi năm Nước Ta sử dụng khoảng chừng từ 35.000 đến hơn 100 nghìn tấn hóa chất bảo vệthực vật. Đặc biệt năm 2006 lượng thuốc BVTV nhập khẩu là 71.345 tấn. Năm1991200020052009Tổng khối lượng ( tấn thành phẩm ) 20.30033.63751.76479.896 Bảng 1. Lượng thuốc BVTV đã sử dụng ở Việt NamKhông chỉ dừng lại ở việc sử dụng số lượng lớn thuốc BVTV, thực trạng sử dụng sai quyđịnh, không tuân thủ theo nguyên tắc 4 đúng như : dùng thuốc không rõ nguồn gốc, thuốckhông có trong hạng mục, dùng quá liều lượng, vứt bỏ vỏ hộp, hộp đựng thuốc ra môi trườngbên ngoài mà không qua xử lí … cũng đang trở nên khó quản lí, dẫn đến ngày càng tăng dư lượngthuốc có trong thiên nhiên và môi trường, đặc biệt quan trọng là thiên nhiên và môi trường nước. Theo văn phòng ban chỉ huy 33, kếtquả kiểm tra tình hình sử dụng thuốc BVTV trên rau của 4600 hộ nông dân năm 2006 chothấy có tới 59,8 % số hộ vi phạm về quy trình tiến độ sử dụng thuốc, sử dụng thuốc cấm, thuốc ngoàidanh mục : 10,31 % ; sử dụng thuốc không rõ nguồn gốc, nguồn gốc : 0,73 %. Mặt khác, theo đánhgiá của những cơ quan chức năng, trong những vỏ hộp, chai lọ đựng thuốc bảo vệ thực vật đã quasử dụng, lượng thuốc còn sót lại không hề nhỏ, gần 2 %, do đó, với một lượng lớn thuốc đượcsử dụng như lúc bấy giờ, lượng thuốc còn sót lại trong vỏ hộp là không hề nhỏ, trong khi thóiquen của bà con khi sử dụng thuốc BVTV vẫn là vứt tại ruộng, không cần xử lí. Đi kèm với một số lượng lớn thuốc BVTV được sử dụng trong những năm gần đây chínhlà một số lượng không nhỏ những xí nghiệp sản xuất sang chiết, đóng gói thuốc, kho chứa thuốcBVTV sống sót, và đặc biệt quan trọng vẫn còn nhiều nơi nằm trong khu dân cư. Theo Thông tấn xã ViệtNam, trong 289 kho hóa chất bảo vệ thực vật tồn lưu, hiện đang lưu giữ khoảng chừng 217 tấn37. 000 lít hóa chất bảo vệ thực vật và 29 tấn vỏ hộp ( trong đó có nhiều loại vỏ hộp, vỏ chai, thùng phuy tiềm ẩn hóa chất bảo vệ thực vật không có nhãn mác, nguồn gốc xuất xử chủyếu gồm những loại hóa chất : DDT, Basal, Lindan, thuốc diệt chuột, gián, muỗi của TrungQuốc, Vinizeb-Exho, Xibuta, Kayazinno, Hinossan, … ). Theo những hiệu quả tìm hiểu của BộNông nghiệp và Phát triển Nông thôn và Tổng cục Môi trường, thuốc bảo vệ thực vật hiệncòn tồn lưu ở Nước Ta đa phần là DDT ( lẫn với Lindan ). Đây là những loại hóa chất còn tồnlưu tại những kho từ trước năm 1990. Với điều kiện kèm theo dữ gìn và bảo vệ còn chưa ổn, thậm chí còn nhiều khothuốc BVTV tìm cách xử lí bằng cách chôn lấp trong lòng đất dẫn đến những hậu quả khônlường khi một số lượng lớn hóa chất đôc hại bị chôn lấp nhiễm vào nguồn nước ngầm, nguồnnước hoạt động và sinh hoạt của người dân. b. Thực trạng về sự tồn dư thuốc BVTV lúc bấy giờ : Với số lượng lớn thuốc BVTV được sử dụng hàng năm cùng với những kho chứa thuốcBVTV được phân bổ tại nhiều nơi trên cả nước vẫn chưa được xử lí … việc tồn dư lại thuốcBVTV trong đất, trong nước là điểu khó tránh khỏi. Hiện nay, phần nhiều những khu vực bị ônhiễm lại đang nằm lẫn trong khu dân cư hay những khu vực đất ruộng đang được canh tác. Những khu vực ô nhiễm này có diện tích quy hoạnh từ vài chục mét vuông cho đến cả hàng ngàn métvuông ; chiều sâu đất ô nhiễm từ 0,5 m – 3 m. Theo nhìn nhận của Cục Quản lý chất thải và cảithiện môi trường tự nhiên – Tổng cục Môi trường thì ô nhiễm môi trường tự nhiên do tồn lưu hóa chất bảo vệthực vật đang là một yếu tố thiên nhiên và môi trường rất là nghiêm trọng. Đây là những hợp chất hữu cơđộc hại đứng đầu list 12 loại độc chất nguy khốn, sống sót rất bền trong thiên nhiên và môi trường nênrất khó để phân hủy sinh học. Trong đó, hầu hết lại là những loại hóa chất thuộc nhóm POPsnhư : DDT, 666, Aldrin … Những hóa chất này hoàn toàn có thể trôi theo nước mưa và ngấm sâu vào nguồn nước hoạt động và sinh hoạt nướcuống. Theo Hải Yến, năm ngoái, trong hạng mục điểm tồn lưu hóa chất bảo vệ thực vật gây ônhiễm thiên nhiên và môi trường nghiêm trọng và đặc biệt quan trọng nghiêm trọng theo Quyết định số 1946 của Thủtướng nhà nước, hiện cả nước còn có 15 tỉnh với 240 điểm tồn lưu hóa chất bảo vệ thực vật. Đặc biệt, ở hai tỉnh Nghệ An và TP Hà Tĩnh hiện chiếm trên 60 % số điểm nằm trong danh mục100 khu vực ô nhiễm đặc biệt quan trọng nghiêm trọng do tồn lưu hóa chất bảo vệ thực vật. Vấn đề nangiải nhất tại những điểm tồn lưu thuốc bảo vệ thực vật ở Nước Ta là những hóa chất này đã bịchôn lấp, rò rỉ, rơi vãi trong quy trình luân chuyển … không tương thích tiêu chuẩn. Do đó, côngviệc quản trị thiên nhiên và môi trường tại những điểm này sẽ phải tập trung chuyên sâu vào nội dung tái tạo, giải quyết và xử lý triệtđể nhằm mục đích hồi sinh những khu vực bị ô nhiễm để đưa thực trạng của đất và nguồn nước ngầm trởvề được trạng thái bắt đầu. Tuy nhiên, hiệu suất cao đến đâu lại đang phụ thuộc vào mức độ đầu tưkinh phí ra sao cho công tác làm việc này. Theo 1 số ít chuyên viên, khi nhìn nhận về những điểm ô nhiễm tồn lưu hóa chất bảo vệ thựcvật đã cho biết việc giải quyết và xử lý những loại hóa chất bảo vệ thực vật tồn lưu còn tàng trữ ở trong khotương đối đơn thuần ; tuy nhiên việc tái tạo và phục sinh những khu vực bị ô nhiễm lại rất phức tạp vàtốn kém. Chẳng hạn nếu như giải quyết và xử lý 1 kg hóa chất tồn lưu chỉ cần 2 USD, nhưng phải cần tới20 USD để giải quyết và xử lý 1 kg hóa chất nếu bị rò rỉ vào vùng đất mặt phẳng ; khi 1 kg hóa chất bị thấmxuống tầng đất dưới cần tới 200 USD để giải quyết và xử lý thì nếu 1 kg hóa chất đã ngấm xuống nguồnnước ngầm thì sẽ phải sử dụng tới 2 nghìn USD để giải quyết và xử lý. Như vậy, cùng với yếu tố kinh phí đầu tư, ngay cả thời hạn để giải quyết và xử lý những hóa chất ô nhiễm này cũng tăng lên rất nhiều lần khi mànhững hóa chất ấy đã bị phân tán ra thiên nhiên và môi trường. Cho đến nay, vẫn chưa có nhiều nghiên cứu và điều tra và công bố về dư lượng thuốc BVTV trongnguồn nước, toàn bộ mới chỉ dừng lại ở những cảnh báo nhắc nhở từ những phương tiện đi lại truyền thông online, do đó, nhiều người dân vẫn còn có tâm ý chủ quan, chưa nhận thức được sự nguy cơ tiềm ẩn từ tồn dưthuốc BVTV trong nước, thực trạng sống chung với hóa chất ô nhiễm vẫn diễn ra hàng ngày ởnhững vùng bị ô nhiễm. c. Ảnh hưởng của dư lượng thuốc BVTV trong nước đến môi sinh, môi trường tự nhiên : Thuốc BVTV được con người sử dụng với mục tiêu bảo vệ cây xanh khỏi những yếu tố gâybất lợi cho sự tăng trưởng của chúng như : sâu hại, nấm hại, cỏ dại … Việc còn sống sót dư lượngthuốc là thiết yếu để hoàn toàn có thể ngăn cản sự tiến công của dịch hại lên cây xanh. Tuy nhiên, dù cóxử lí bằng giải pháp nào thì sau cuối thuốc BVTV cũng sẽ đi vào đất và ngấm xuốngcác tầng đất khác nhau rồi sau cuối ngấm xuống mực nước ngầm, hoặc thuốc hoàn toàn có thể theodòng chảy trực tiếp từ ruộng vào ao, hồ. Do đó, những tác động ảnh hưởng xấu do dư lượng thuốctrong nước gây ra là : Tạo ra thiên nhiên và môi trường bất lợi cho những loài sinh vật khác trong hệ sinh thái, thậmchí là hủy hoại cả những loài không phải là đối tượng người tiêu dùng dịch hại cần phòng trừ. VD : việc dùng thuốc diệt ốc bươu vàng đã làm ảnh hưởng tác động và làm chết nhiềuloài động vật hoang dã thủy sinh khác như cá, tôm, cua … do dư lượng thuốc từ ruộngchảy ra những kênh mương hoặc hồ nuôi trồng. Việc tồn dư thuốc trừ cỏ từ vụtrước hoàn toàn có thể ngăn cản quy trình nảy mầm của hạt … • Dư lượng thuốc BVTV ngấm vào nước ngầm, gây ô nhiễm nguồn nước, gâyđộc cho người sử dụng. VD : theo trang Thanhhoaplus. net, làng ung thư tạixã Định Liên, huyện Yên Định ( Thanh Hóa ), hàng năm có rất nhiều ngườichết vì ung thư, nguyên do khởi đầu được xác lập do sử dụng quá nhiềuthuốc BVTV dạng DDT, 666 … nên dẫn đến nhiễm đọc asen cho nguồn nước. Một ví dụ khác về tác động ảnh hưởng khôn ường của dư lượng thuốc BVTV trong nướcđến con người, theo báo tài nguyên và thiên nhiên và môi trường đó là làng Cờ Đỏ, xã DiễnHải, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An, một trong số 10 làng ung thư đã đượccông bố trên cả nước, cũng có số người chết vì ung thư lên đến hàng chụcngười chỉ trong thời hạn ngắn. Nguyên nhân cũng được xác nhận là ngaytrong khu vực dân cư của làng có một kho chứa thuốc BVTV đã sống sót đượchơn 20 năm … 2. Nguyên nhân gây tồn dư thuốc BVTV trong nước : Dư lượng thuốc BVTV gồm có bất kể dẫn xuất nào của thuốc cũng như những sản phẩmchuyển hóa của chúng hoàn toàn có thể gây độc cho môi sinh, thiên nhiên và môi trường. Dư lượng thuốc BVTV trong nước hoàn toàn có thể có do những nguyên do chính sau : Do thuốc BVTV từ đất thẩm thấu xuống mực nước ngầm, dẫn đến nướcngầm có nhiễm tồn dư của thuốc BVTV. Đất nhiễm thuốc BVTV hoàn toàn có thể làđất canh tác có sử dụng thuốc BVTV, hoặc nơi chứa thuốc BVTV bị rò rỉra ngoài, thẩm thấu xuống những tầng đất dưới và mạch nước ngầm … Các kho chứa thuốc BVTV bị rò rỉ hoặc thuốc bị chôn lấp hoàn toàn có thể bịngấm xuống đất và nhiễm độc cho mạch nước ngầm ( nguồn : baotainguyenmoitruong.vn ) Do thuốc BVTV được nhiễm trực tiếp vào nguồn nước như : dùng thuốctrực tiếp vào nước, thuốc còn dư trong những vỏ hộp chứa thuốc BVTV bị vứtvào nguồn nước, thuốc bị xả ra môi trường tự nhiên trong những nhà máy sản xuất sang chiết, đóng gói thuốc BVTV … Dư lượng thuốc BVTV trong nước cũng hoàn toàn có thể bắt nguồn từ việc vứtbỏ bừa bãi vỏ hộp chứa thuốc BVTV ( nguồn : internet ) 3. Phương hướng xử lý : • Nhà nước cần có những giải pháp quản lí chặt ngặt nghèo việc nhập khẩu, sử dụng thuốcBVTV nhằm mục đích trấn áp được loại thuốc cũng như lượng thuốc BVTV đang được sử dụnghiện nay. • Quản lí, xử lí triệt để những cơ sở sang chiết, đóng gói thuốc BVTV, những kho chứa thuốcBVTV không đạt tiêu chuẩn. Các cơ sở trên cần được bảo vệ về cơ sở vật chất phù hợpcho khâu đóng gói, dữ gìn và bảo vệ thuốc BVTV. • Ban hành luật, những văn bản pháp lý về vẫn đề sử đụng thuốc BVTV, có chế tài xử phạtthích đáng cho những cá thể vi phạm trong nghành nghề dịch vụ BVTV • Nhà nước cần có sự góp vốn đầu tư cho việc xử lí nguồn nước cho những khu vực bị nhiễm hóa chấtBVTV, cần có chính sách tặng thêm, tương hỗ cho những chương trình sản xuất và ứng dụng những sảnphẩm hữu cơ, vi sinh vào công tác làm việc phòng trừ sinh vật gây hại tài nguyên thực vật. Chọnlọc những loại thuốc, dạng thuốc BVTV bảo đảm an toàn có tính tinh lọc cao, phân giải nhanh trongmôi trường. • Đẩy mạnh việc vận dụng những văn minh kỹ thuật trong trồng trọt, nâng cao hiểu biết của ngườinông dân trong việc sử dụng thuốc BVTV bảo đảm an toàn và có hiệu suất cao từ đó giảm lượng thuốcBVTV sử dụng. Chú trọng việc thu gom và giải quyết và xử lý vỏ hộp thuốc BVTV sau sử dụng. Duy trìvà lan rộng ra việc vận dụng IPM vì chương trình này không chỉ tiết kiệm chi phí ngân sách cho việcmua thuốc BVTV mà còn góp thêm phần làm giảm thiểu ô nhiễm môi trường tự nhiên • Tuyên truyền, tập huấn, nâng cao ý thức bà con nông dân trong việc sử dụng thuốc BVTVcũng như ý thức của người sản xuất và kinh doanh thương mại thuốc BVTV. Xây dựng những nơi tậptrung vỏ hộp thuốc BVTV để xử lí theo đúng pháp luật. III.THẢO LUẬNThông qua những nội dung vừa nêu trên, em có rút ra một vài quan điểm luận bàn như sau :  Việc tồn dư hóa chất BVTV trong nước, đặc biệt quan trọng là nguồn nước hoạt động và sinh hoạt đang làmột tình hình đáng báo động lúc bấy giờ. Tuy nhiên, có vẻ như những cơ quan chứcnăng vẫn còn lúng túng, thiếu tính ngặt nghèo và đồng nhất trong khâu quản lí và xử lícác khu vực bị ô nhiễm. Phải chăng họ đang lãnh đạm hoặc chủ quan trước nhữngnguy hại mà người dân đang phải đương đầu. Nhà nước cần phải có những động tháiquyết liệt, đúng đắn để xử lý tình hình nhiễm độc, tồn dư hóa chất BVTVtrong thiên nhiên và môi trường, đặc biệt quan trọng là thiên nhiên và môi trường nước vì nó tiếp xúc trực tiếp với ngườidân hằng ngày.  Nhiều công ty thuốc BVTV lúc bấy giờ vì doanh thu mà mặc kệ những quy địnhcủa pháp lý, mặc kệ tính mạng con người, sức khỏe thể chất của những người xung quanh khi tự ýxả thải chất độc không qua xử lí ra môi trường tự nhiên, hoặc chôn lấp thuốc BVTV hếthạn, thuốc bị cấm sử dụng .. quanh khu dân cư. Điển hình như vấn đề của công tyNicotex Thanh Thái. Do đó, cần sự vào cuộc và xử lí mạnh tay từ phía những cơquan quản lí.  Các phương hướng, cách xử lý so với dư lượng thuốc BVTV trong nước chỉđạt hiệu suất cao khi có sự chung tay của cả hội đồng và việc nâng cao ý thực củatoàn xã hội. Đây không còn là yếu tố của riêng một khu vực mà là yếu tố của cảxã hội. cần có sự nhận thức đúng đắn ngay từ giờ đây để kịp thời khắc phục, tránhnhững tác động ảnh hưởng xấu cho những thế hệ sau. IV.TÀI LIỆU THAM KHẢO1. Văn phòng ban chỉ huy 33 – Sử dụng thuốc Bảo vệ thực vật và yếu tố ô nhiễmmôi trường. Ngày đăng : 04/06/2013. http://www.office33.gov.vn/su-dung-thuoc-bao-vethuc-vat-va-van-de-o-nhiem-moi-truong_120-99-vi-VN.aspx2.Thông tấn xã Nước Ta – Nỗ lực xử lý hậu quả ô nhiễm do thuốc bảo vệ thựcvật : http://cantho.gov.vn/wps/wcm/connect/sotnmt/sub+site/sitemenu/linhvucquanly/moitruong/no+luc+giai+quyet+hau+qua+o+nhiem+do+thuoc+bvtv3.Thanhhoaplus.net – Làng ung thư ở Thanh Hóa : Hoang mang nguồn nước nhiễmđộc : http://thanhhoaplus.net/2015/06/lang-ung-thu-o-thanh-hoa-hoang-mang-nguonnuoc-nhiem-doc/4.Báo điện tử bộ tài nguyên và môi trường tự nhiên – Nghệ An : Dân ” sống mòn ” ở ” làng ungthư ” Cờ Đỏ, ngày đăng Thứ Ba, 05/05/2015, 14 h : 16 p : http://baotainguyenmoitruong.vn/suc-khoe-doi-song/201505/nghe-an-dan-song-mon-olang-ung-thu-co-do-583884/5.Báo Lào Cai điện tử – Ô nhiễm nguồn nước từ thuốc bảo vệ thực vật – Tất Đạt, ngày đăng 03/08/2015 14 : 08 : http://baolaocai.vn/kinh-te/o-nhiem-nguon-nuoc-tu-thuocbao-ve-thuc-vat-z3n20150803140858622.htm6.Trang thông tin điện tử viện khoa học pháp lý – Ô nhiễm môi trường tự nhiên vì thuốcBVTV – Hoàng Thế Phong ( sưu tầm ). http://khpl.moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/phap-luatve-bao-ve-moi-truong.aspx?ItemID=3087.TW hội nông dân Nước Ta – Thực trạng ô nhiễm do hóa chất thuốc BVTV tạiViệt Nam – Hải Yến, ngày đăng 25/11/2015, 14h13p.http : / / mtnt.hoinongdan.org.vn/sitepages/news/1101/39819/thuc-trang-o-nhiem-do-hoachat-thuoc-bvtv-tai-viet-nam8.Bài giảng : Quản lý dư lượng thuốc BVTV – PGS.TS Nguyễn Văn Viên .

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.