Chứng từ vận tải (Bill of Transport). – Tài liệu text

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản không thiếu của tài liệu tại đây ( 1.11 MB, 64 trang )

 Chuyên đề tốt nghiệp

GVHD: Nguyễn Thị Thủy

hàng trong suốt quá trình vận chuyển hàng hoá từ nơi đi đến nơi đến. Tuỳ theo

từng loại phương tiện vận tải mà có nhiều loại vận đơn như:

• Vận đơn đường biển (Bill of lading) – B/L.

• Vận đơn đường sắt (Rail way bill) – R/B.

• Vận đơn đường hàng không (Air way bill) – A/B.

• Vận đơn đường bộ (Land way bill) – L/B.

• Vận đơn đường sông (Island water way bill) – IW/B.

Trong đó vận đơn đường biển là chứng từ vận tải được sử dụng phổ biến

nhất.

2.2. Các loại chứng từ vận tải:

2.2.1. Vận đơn đường biển (Marine/Ocean Bill of lading – B/L).

2.2.1.1. Khái niệm:

Vận đơn đường biển là chứng từ vận tải bằng tàu biển xác nhận chuyên chở

hàng hoá từ cảng đi đến cảng đến. Vận đơn đường biển do người vận chuyển lập

và cấp cho người gởi hàng (người bán) là căn cứ pháp lý để giải quyết mối quan

hệ giữa người vận chuyển, người gửi hàng và người nhận hàng.

2.2.1.2. Tác dụng:

Vận đơn đường biển là bằng chứng xác nhận hợp đồng chuyên chở hàng

hoá bằng tàu biển giữa một bên là người vận chuyển và một bên là người gửi

hàng, qua đó xác định trách nhiệm pháp lý của người chuyên chở, đối với khối

lượng và tình trạng hàng hoá ghi trong vận đơn trong suốt quá trình vận chuyển,

từ lúc hàng hoá được xếp lên tàu để vận chuyển ra nước ngoài, cho đến khi hoàn

thành nghĩa vụ giao hàng.

• Vận đơn đường biển là chứng từ xác nhận quyền sỡ hữu hàng hoá ghi

trong vận đơn và là cơ sở pháp lý để nhận hàng tại cảng, ai nắm vận đơn sẽ là

người chủ sỡ hữu hàng hoá.

• Vận đơn đường biển được lưu thông và chuyển nhượng từ tay người này

sang tay người khác nên vận đơn đường biển được dùng để cầm cố, mua bán…

• Vận đơn đường biển là chứng từ sỡ hữu nên nó là loại chứng từ quan

trọng nhất, giữ vị trí đặc biệt trong bộ chứng từ thương mại.

SVTH:Nguyễn Châu Khánh Phương – Lớp 27K1.1

Trang 9

 Chuyên đề tốt nghiệp

GVHD: Nguyễn Thị Thủy

2.2.1.3. Nội dung của B/L:

Vận đơn đường biển được lập theo mẫu in sẵn của từng đơn vị vận chuyển

và phải phản ánh những nội dung sau:

• Tên và địa chỉ của hãng tàu hoặc đại lý của hãng tàu.

• Tên và địa chỉ của người gửi hàng (Shipper), tức là tên của nhà xuất

khẩu.

• Tên và địa chỉ của người nhận hàng (Consignee): người vận chuyển có

nghĩa vụ ký phát vận đơn theo yêu cầu của người gửi hàng bằng các cách sau đây:

 Nếu là vận đơn đích danh thì ghi rõ tên người nhận hàng.

 Nếu là vận đơn theo lệnh thì ghi: To order (theo lệnh), thông thường khi

phát hành vận đơn theo lệnh, người phát hành vận đơn có những cách ghi sau:

 Giao hàng theo lệnh người nhận hàng – To order of consignee.

 Giao hàng theo lệnh của người gởi hàng – To order of shipper.

 Giao hàng theo lệnh của ngân hàng (ghi rõ tên ngân hàng) – To order of

Name’s bank…

Nếu B/L sử dụng trong phương thức tín dụng chứng từ thì ghi tên ngân

hàng mở L/C. Như vậy, ngân hàng mở L/C là ngân hàng nắm quyền chi phối lô

hàng nhờ nắm được vận đơn.

Theo đó, ngân hàng trở thành người chủ sỡ hữu hàng hoá và chỉ khi nào

người mua trả tiền thì ngân hàng mới ký chuyển nhượng vận đơn cho bên mua để

người mua làm thủ tục nhận hàng.

 Giao hàng cho người cầm vận đơn (To order bearer)- ai cầm vận đơn sẽ

là người được nhận hàng hoá.

 Tên địa chỉ của người được thông báo khi hàng về (Notify adress).

 Tên tàu, hoặc phương tiện vận chuyển (Vessel).

 Cảng lên hàng (Port of loading).

 Cảng bốc dỡ hàng (Port of discharge).

 Tên hàng, ký hiệu, mã hiệu, số lượng, trọng lượng, khối lượng và các chi

tiết mô tả hàng hoá (goods).

 Chữ ký của thuyền trưởng, hoặc đại diện đơn vị vận tải.

SVTH:Nguyễn Châu Khánh Phương – Lớp 27K1.1

Trang 10

 Chuyên đề tốt nghiệp

GVHD: Nguyễn Thị Thủy

2.2.1.4. Các căn cứ phân loại vận đơn:

B/L là chứng từ không thể thiếu bên cạnh hoá đơn thương mại, và các

chứng từ khác mà người xuất khẩu xuất trình bộ chứng từ cho ngân hàng để được

thanh toán.

B/L là căn cứ quan trọng cho phép người sỡ hữu hợp pháp có quyền định

đoạt số hàng hoá khi tàu cập bến.

Vận đơn là chứng từ sỡ hữu do đó nó được dùng để thế chấp cầm cố mua

bán và chuyển nhượng hàng hoá.

2.2.1.4.1. Căn cứ vào việc chuyển nhượng:

2.2.1.4.1.1. Vận đơn đích danh (Straight of B/L):

Vận đơn ghi rõ tên và địa chỉ người nhận hàng, được gọi là vận đơn đích

danh. Chỉ có người này mới được nhận hàng ở cảng – Loại vận đơn này không

chuyển nhượng được.

2.2.1.4.1.2. Vận đơn theo lệnh (To order B/L):

Vận đơn có ghi giao hàng theo lệnh của một người nào đó “Delivery to

order…”

Theo vận đơn này thì hàng hoá được giao theo lệnh của người đó. Vận đơn

này được chuyển nhượng bằng cách ký hậu (endorsement), có thể ghi tên cụ thể

người được chuyển nhượng hoặc để trống (ký hậu để trắng – blank endorsement).

Việc chuyển nhượng có thể được thực hiện từ người này sang người khác cho đến

khi chỉ định đích danh người nhận hàng. Khi đó vận đơn theo lệnh trở thành vận

đơn đích danh.

Trong thanh toán quốc tế để đảm bảo người mua thanh toán tiền đúng hạn,

ngân hàng cần khống chế bộ chứng từ thanh toán, nên sau chữ “to order” là tên

ngân hàng mở L/C. Ngân hàng trở thành người sỡ hữu hàng hoá, chỉ khi nào

người mua đồng ý trả tiền, hoặc ký chấp nhận hối phiếu thì ngân hàng mới trao bộ

chứng từ thanh toán để làm cơ sở nhận hàng và B/L sẽ được ngân hàng chuyển

nhượng cho người mua thông qua thủ tục ký hậu. Phải có chữ ký của ngân hàng

thì B/L mới trở nên hợp lệ, mới dễ dàng trong việc nhận hàng. Loại vận đơn này

thường được sử dụng rộng rãi và phổ biến trong thanh toán quốc tế.

2.2.1.4.1.3. Vận đơn xuất trình (To bearer bill of lading):

Là vận đơn không ghi tên người nhận hàng hoặc theo lệnh nên hàng hoá sẽ

được giao cho người nào xuất trình vận đơn. Người nào cầm vận đơn người đó sẽ

SVTH:Nguyễn Châu Khánh Phương – Lớp 27K1.1

Trang 11

 Chuyên đề tốt nghiệp

GVHD: Nguyễn Thị Thủy

là người sỡ hữu hàng hoá. Loại vận đơn này chuyển nhượng bằng cách trao tay

không cần thông qua thủ tục ký hậu.

2.2.1.4.1.4. Vận đơn đường biển không lưu thông (Non – Negotiable Sea Way

bill):

Là vận đơn đường biển thể hiện chuyên chở hàng hoá đường biển nhưng

không có giá trị lưu thông, nghĩa là không được chuyển nhượng. Dựa theo điều 24

UCP 500 thì về cơ bản, nội dung của vận đơn đường biển không lưu thông giống

như vận đơn đường biển lưu thông theo điều 23 UCP 500 nhưng chỉ khác nhau về

tính lưu thông của vận đơn. Do sự tiến bộ khoa học kỹ thuật hiện nay trong ngành

vận tải đường biển mà trong quá trình vận chuyển hàng hoá giữa những nước gần

nhau, thời gian vận chuyển ngắn nên dẫn đến tình trạng hàng hoá đến nơi mà

chứng từ chuyển qua ngân hàng chưa đến kịp. Điều này gây chậm trễ trong việc

nhận hàng và để giải quyết tình trạng trên ta thấy xuất hiện vận đơn đường biển

không lưu thông. Vận đơn này được xem như là chứng từ chứng minh cho việc

chuyên chở hàng hoá đường biển, hàng hoá sẽ được giao cho người nhận hàng chỉ

định ghi rõ trong hồ sơ vận tải mà không phải xuất trình vận đơn. Do đó bản thân

vận đơn đường biển không lưu thông không phải là chứng từ hàng hoá.

2.2.1.4.2. Căn cứ vào sự chuyên chở:

2.2.1.4.2.1. Vận đơn chở suốt (Through bill of lading):

Là vận đơn được sử dụng trong trường hợp chuyên chở hàng hoá từ cảng

xếp hàng đến cảng dỡ hàng nhưng phải chuyển tải qua nhiều phương tiện vận tải

khác nhau, nhiều chủ tàu khác nhau. Trường hợp này người vận tải đầu tiên phải

cấp một vận đơn chở suốt đại diện cho tất cả các chuyến và chịu trách nhiệm về

chuyến hàng trong suốt quá trình vận chuyển. Vận đơn này còn được gọi là vận

đơn chuyển tải (Transhipment B/L).

2.2.1.4.2.2. Vận đơn đi thẳng (Direct bill of lading):

Vận đơn được cấp để chuyên chở hàng hoá trực tiếp từ cảng đi đến cảng

đến trong trường hợp hàng hoá được chuyên chở trên một con tàu đi thẳng từ cảng

xếp hàng đến cảng dỡ hàng mà không qua một phương tiện nào khác.

2.2.1.4.3. Căn cứ vào những ghi chú trên vận đơn:

2.2.1.4.3.1. Vận đơn hoàn hảo (Clean Bill of lading):

Là vận đơn không có ghi chú nào về tình trạng khiếm khuyết của bao bì và

hàng hoá vận chuyển. Vận đơn hoàn hảo là vận đơn được bên mua hoặc ngân

hàng mở L/C trả tiền hoặc chấp nhận trả tiền.

SVTH:Nguyễn Châu Khánh Phương – Lớp 27K1.1

Trang 12

 Chuyên đề tốt nghiệp

GVHD: Nguyễn Thị Thủy

2.2.1.4.3.2. Vận đơn không hoàn hảo (Unclean bill of lading):

Là vận đơn có những ghi chú bất thường về tình trạng hàng hoá, bao bì.

(Hàng bị ẩm mốc, bị bể, móp méo, thùng bị vỡ, đọng nước,v.v…)

Khi gặp vận đơn không hoàn hảo thì người mua, ngân hàng của người mua

sẽ từ chối thanh toán.

2.2.1.4.4. Căn cứ vào thời gian cấp vận đơn và thời gian bốc xếp:

2.2.1.4.4.1. Vận đơn xếp hàng (Shipped on board bill of lading):

Vận đơn được cấp sau khi hàng hoá đã được xếp xuống tàu nào đó. Ngân

hàng chỉ chấp nhận vận đơn xếp hàng có đóng dấu “on board”, hoặc “shipped on

board” của chủ tàu, hoặc thuyền trưởng.

2.2.1.4.4.2. Vận đơn nhận hàng để xếp (Received for shipment bill of lading):

Vận đơn được cấp khi nhận hàng chưa xếp xuống tàu. Trong thực tế khi gởi

hàng lúc đầu người gởi hàng sẽ nhận “ vận đơn nhận hàng để xếp” và sau khi xếp

hàng xong thì đổi lấy “vận đơn xếp hàng”. Nếu chỉ xuất trình vận đơn nhận hàng

để xếp thì ngân hàng sẽ từ chối thanh toán. Nếu vận đơn này đã được đổi lấy vận

đơn xếp hàng thì ngân hàng mới chấp nhận thanh toán.

 Ngoài các loại vận đơn nói trên, còn có những loại vận đơn sau đây:

• Vận đơn liên hợp (Combined transport bill of lading): Theo điều 26

UCP còn được gọi là chứng từ vận tải đa phương thức (Multimodel transport

document) hay là vận đơn chuyển tải trong trường hợp kết hợp hai hay nhiều

phương thức vận tải khác nhau từ chỗ nhận hàng đến chỗ giao hàng. Hàng hoá

chuyên chở thường đóng thành đơn vị lớn đặt trong các container, palette…nên

thường phối hợp nhiều chứng từ với nhau. Chứng từ vận chuyển liên hợp bao gồm

các nội dung giống như vận đơn đồng thời xác nhận trách nhiệm pháp lý của

người điều hành vận chuyển liên hợp bắt đầu từ nơi nhận đến kết thúc ở nơi giao

hàng, số bản gốc được lập, chi phí vận chuyển. Ngân hàng sẽ chấp nhận chứng từ

này nếu có ghi rõ chuyển tải trong L/C miễn là toàn bộ vận chuyển được ghi trong

cùng một chứng từ (điều 26b UCP 500).

• Vận đơn rút gọn (Short bill of lading): hay còn được gọi vận đơn đơn

giản: là vận đơn không ghi đầy đủ các chi tiết các điều khoản, chỉ bao gồm các

điều khoản chung tuy nhiên vận đơn này cũng có giá trị.

• Vận đơn đến chậm (Stale bill of lading): là vận đơn đến chậm so với

hàng hoá. Do điều kiện địa lý mà tàu và vận đơn không đến cùng một lúc. Vận

đơn đến quá chậm sẽ ảnh hưởng đến hàng hoá: hàng hoá có thể bị hỏng, tốn tiền

SVTH:Nguyễn Châu Khánh Phương – Lớp 27K1.1

Trang 13

 Chuyên đề tốt nghiệp

GVHD: Nguyễn Thị Thủy

lưu kho lưu bãi. Ngân hàng sẽ từ chối những vận đơn đến chậm. Theo thông lệ

quốc tế vận đơn được xuất trình trong phạm vi thời hạn xuất trình chứng từ của tín

dụng hoặc trong vòng 21 ngày kể từ ngày xếp hàng lên tàu trừ khi tín dụng có quy

định thời hạn khác.

• Vận đơn hợp đồng thuê tàu (Charter party B/L): là vận đơn được sử

dụng trong trường hợp thuê tàu chuyến, được lập trên cơ sở các điều khoản của

hợp đồng thuê tàu. Vận đơn này được coi như biên lai nhận hàng, nên khi xuất

trình thường bị ngân hàng từ chối trừ khi có qui định cụ thể trong L/C.

• Vận đơn bên thứ ba (Third party B/L): là vận đơn được lập mà người

hưởng lợi L/C không phải là người gửi hàng mà là người thứ ba do người hưởng

lợi chỉ định, vận đơn này được sử dụng trong mua bán trung gian.

2.2.2. Các chứng từ vận tải khác:

2.2.2.1. Chứng từ vận tải hàng không (Air transport document):

Hay còn được gọi là vận đơn hàng không (Airway bill) là chứng từ vận tải

xác nhận việc chuyên chở hàng hoá bằng đường hàng không do hãng hàng không

phát hành.

Dựa theo điều 27 UCP 500 thì nội dung vận đơn hàng không tương tự như

vận đơn đường biển, nhưng vận đơn hàng không không có chức năng sỡ hữu hàng

hoá nên không có giá trị lưu thông và không được chuyển nhượng. Điều này phải

được thể hiện trên vận đơn tức là phải ghi “Not – negotiable”. Vận đơn hàng

không chỉ là bằng chứng xác nhận việc chuyên chở hàng hoá bằng đường hàng

không còn hàng hoá được giao cho ai thì người nhận hàng phải chứng minh được

họ chính là người nhận hàng bằng việc xuất trình giấy tuỳ thân và giấy báo gửi

hàng. Vận đơn hàng không sử dụng trong phương thức tín dụng chứng từ sẽ ghi

người nhận hàng là ngân hàng mở L/C.

Tuỳ theo thoả thuận giữa đôi bên thông thường vận đơn hàng không được

lập làm ba bản gốc: bản thứ nhất do hãng hàng không giữ, bản thứ hai được giao

cho người nhận hàng tại nơi đến và được gửi kèm với hàng hoá, bản thứ ba giao

cho người gởi hàng tại nơi đi, đây là bằng chứng xác nhận hàng hoá đã được tiếp

nhận và gửi đi.

SVTH:Nguyễn Châu Khánh Phương – Lớp 27K1.1

Trang 14

 Chuyên đề tốt nghiệp

GVHD: Nguyễn Thị Thủy

2.2.2.2. Chứng từ vận tải đường bộ, đường sắt hay đường thuỷ nội địa (Road,

Rail, or Island waterway transport document):

Theo điều 28 UCP 500 đây là các chứng từ xác nhận việc chuyên chở hàng

bằng đường bộ, đường sắt hoặc đường thuỷ nội địa do người chuyên chở là các

công ty vận chuyển hay đại lý cấp.

Các chứng từ vận tải này không phải là chứng từ sỡ hữu hàng hoá nên

không có giá trị lưu thông và không được chuyển nhượng. Vì thế có thể phát hành

nhiều bản chính hoặc bản sao tuỳ ý.

Ngoài ra còn có biên lai bưu điện và biên nhận chuyển hàng: (Courier and

post receipts). Theo điều 29 UCP 500 việc chuyên chở hàng hoá có thể được

chuyên chở bằng đường bưu điện hoặc bằng chuyển phát nhanh do cơ quan bưu

điện hoặc các hãng chuyển phát nhanh nhưng thường là những hàng nhẹ, quý

hiếm, khối lượng tương đối ít, chứng từ quan trọng và tài liệu mật. Các chứng từ

này không có giá trị lưu thông và hàng hoá sẽ được giao tận tay theo đúng tên, địa

chỉ của người nhận hàng ghi trong chứng từ.

3. Chứng từ bảo hiểm:

3.1. Khái niệm:

Chứng từ bảo hiểm là chứng từ do công ty bảo hiểm cấp cho người mua bảo

hiểm hàng hóa trong quá trình chuyên chở hàng hoá.

3.2. Mục đích của chứng từ bảo hiểm:

• Chứng minh cho một hợp đồng bảo hiểm (Insurance Contract) đã được ký

kết và đang thực hiện.

• Xác nhận việc thu phí bảo hiểm và do đó khẳng định hợp đồng bảo hiểm

đã có hiệu lực.

• Là căn cứ để khiếu nại công ty bảo hiểm thực hiện hợp đồng bảo hiểm

khi có sự cố xảy ra đối với hàng hoá được bảo hiểm.

3.3. Phân loại chứng từ bảo hiểm:

3.3.1. Bảo hiểm đơn (Insurance Policy):

Là chứng từ do công ty bảo hiểm cấp cho người mua bảo hiểm thể hiện

những điều kiện chung và có tính chất thường xuyên về quy định trách nhiệm ràng

buộc của người bảo hiểm.

Bên cạnh đó bảo hiểm đơn còn quy định các điều kiện riêng biệt cụ thể như

đối tượng bảo hiểm, trị giá bảo hiểm, phí bảo hiểm.

SVTH:Nguyễn Châu Khánh Phương – Lớp 27K1.1

Trang 15

 Chuyên đề tốt nghiệp

GVHD: Nguyễn Thị Thủy

Bảo hiểm đơn thể hiện được tất cả điều khoản cơ bản trong hợp đồng bảo

hiểm, đưa ra những chi tiết đầy đủ về các rủi ro được bảo hiểm nên khi kiện tụng

tranh chấp xảy ra có thể căn cứ vào bảo hiểm đơn mà không cần phải có hợp đồng

bảo hiểm.

3.3.2. Giấy chứng nhận bảo hiểm (Insurance certificate):

Nội dung của giấy chứng nhận bảo hiểm gần giống như nội dung của bảo

hiểm đơn về các điều khoản như đối tượng bảo hiểm, giá trị bảo hiểm, phí bảo

hiểm. Giấy chứng nhận bảo hiểm được cấp dựa trên hợp đồng bảo hiểm và trong

từng mỗi chuyến hàng được cấp giấy chứng nhận bảo hiểm. Tuy nhiên, nó không

có những điều khoản chung và có tính chất thường xuyên về quy định trách nhiệm

của người bảo hiểm và được bảo hiểm, giấy chứng nhận bảo hiểm chỉ đưa ra

những chi tiết ngắn gọn về các rủi ro được bảo hiểm.

Bảo hiểm đơn và giấy chứng nhận bảo hiểm đều là bằng chứng của hợp

đồng bảo hiểm, đều có giá trị như nhau để yêu cầu công ty bảo hiểm bồi thường

khi có tổn thất xảy ra.

3.4. Nội dung chứng từ bảo hiểm:

• Tên và địa chỉ của công ty bảo hiểm.

• Tên và địa chỉ của người được bảo hiểm (tuỳ theo giá bán hàng hoá là

FOB hay CIF mà xác định tên người được bảo hiểm).

• Những điều khoản chung về bảo hiểm hàng hoá.

• Đối tượng được bảo hiểm (tên hàng, loại hàng, số lượng, trọng lượng…).

• Tổng giá trị bảo hiểm (tổng trị giá bảo hiểm thấp nhất thường là 110% trị

giá hàng hóa bảo hiểm tính theo giá CIF).

• Phí bảo hiểm (Insurance Premium).

• Địa điểm và cơ quan giám định tổn thất.

• Địa điểm bồi thường.

• Chữ ký của người đại diện công ty bảo hiểm.

3.5. Lưu ý khi lập chứng từ bảo hiểm:

• Chứng từ bảo hiểm phải do công ty bảo hiểm hoặc đại lý bảo hiểm cấp

mới có giá trị, nếu chứng từ bảo hiểm do người môi giới bảo hiểm cấp thì không

có giá trị và sẽ bị ngân hàng từ chối (ngoại trừ được quy định trong L/C).

SVTH:Nguyễn Châu Khánh Phương – Lớp 27K1.1

Trang 16

 Chuyên đề tốt nghiệp

GVHD: Nguyễn Thị Thủy

• Loại tiền ghi trong chứng từ bảo hiểm phải phù hợp với loại tiền ghi L/C.

Nếu không phù hợp thì ngân hàng sẽ từ chối chấp nhận.

• Ngày hiệu lực của chứng từ bảo hiểm được tính từ ngày phát hành chứng

từ bảo hiểm. Nếu ngày phát hành chứng từ bảo hiểm trễ hơn ngày gửi hàng hoặc

ngày cấp vận đơn thì ngân hàng sẽ từ chối chấp nhận thanh toán vì có nguy cơ tổn

thất xảy ra sẽ không được công ty bảo hiểm bồi thường do chênh lệch về ngày

tháng nói trên.

• Trị giá bảo hiểm phải giống như trong L/C quy định. Nếu hàng hoá mua

theo giá CIF thì giá trị bảo hiểm là 110% CIF (giá CIF + 10%).

• Trong L/C phải ghi rõ mua bảo hiểm loại nào thì chứng từ phải ghi rõ loại

bảo hiểm phải mua.

• Mô tả hàng hoá trong chứng từ bảo hiểm phải phù hợp với mô tả hàng hoá

trong L/C.

4. Các loại giấy chứng nhận hàng hoá:

4.1. Khái niệm:

Giấy chứng nhận hàng hoá là những loại giấy chứng nhận do chính người

sản xuất xác nhận hoặc do các tổ chức chuyên môn như Cục Tiêu chuẩn Đo lường

Phòng Thương mại, hoặc các công ty giám định hàng hoá…chứng nhận.

4.2. Mục đích của giấy chứng nhận hàng hóa:

• Tạo cho người mua, người nhận hàng một sự tin tưởng là họ sẽ nhận được

hàng hoá phù hợp với tình trạng (tốt…xấu, hư hỏng, ẩm ướt…) đã được

mô tả trong các giấy chứng nhận. Đây là tác dụng lớn nhất của các giấy

chứng nhận hàng hoá.

• Nhờ các giấy chứng nhận này mà người mua, người nhập khẩu tuy không

trực tiếp kiểm tra hàng hoá mà vẫn kiểm soát được tính chất và số lượng

của hàng hoá, để qua đó kiểm tra đối chiếu với các điều khoản của hợp

đồng thương mại, các điều khoản của L/C…trước khi quyết định trả tiền

hoặc chấp nhận trả tiền.

• Các giấy chứng nhận hàng hoá còn là cam kết của người chứng nhận đối

với người mua, người nhập khẩu – theo đó người chứng nhận sẽ bồi

thường thiệt hại cho người mua, nếu chứng nhận hàng hóa không đúng

tình trạng thực tế.

SVTH:Nguyễn Châu Khánh Phương – Lớp 27K1.1

Trang 17

 Chuyên đề tốt nghiệp

GVHD: Nguyễn Thị Thủy

• Các giấy chứng nhận là chứng từ không thể thiếu để người mua căn cứ

vào đó mà trả tiền hoặc chấp nhận trả tiền cho người bán.

4.3. Phân loại:

4.3.1. Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hoá (Certificate of Origin) – C/O:

Là chứng từ xác nhận xuất xứ hàng hoá hay nguồn gốc hàng hoá chứng từ

này do nhà xuất khẩu cấp hoặc do phòng thương mại của nước xuất khẩu cấp để

chứng minh nguồn gốc của hàng hoá.

4.3.2. Giấy chứng nhận phẩm chất (Certificate of Quality):

Là chứng từ xác nhận phẩm chất hàng hoá gửi đi cho người mua. Giấy

chứng nhận phẩm chất do người sản xuất chứng nhận, hoặc do các cơ quan

chuyên môn (Cục Tiêu chuẩn, Cục Kiểm nghiệm, Các công ty giám định hàng

hoá) chứng nhận.

Các hàng hoá xuất khẩu ở Việt Nam – phần lớn đều do VINACONTROL

giám định chất lượng và cấp giấy chứng nhận.

Giấy chứng nhận phẩm chất giúp cho người mua xác định phẩm cấp của

hàng bán (loại 1, loại 2, v.v…) qua đó giúp người mua đánh giá được sự phù hợp

của chất lượng hàng hóa so với hợp đồng quy định.

4.3.3. Giấy chứng nhận số lượng/trọng lượng (Certificate of quality/weight):

Là chứng từ xác nhận số lượng (cái), khối lượng và trọng lượng hàng hoá

gửi đi do cơ quan kiểm nghiệm hàng hoá cấp, hoặc do hải quan cấp.

Giấy chứng nhận giúp người nhập khẩu đánh giá số lượng hàng hoá so với

hợp đồng quy định để có phương án trả tiền hoặc chấp nhận trả tiền.

4.3.4. Giấy chứng nhận vệ sinh (Sanitary Certificate):

Là chứng từ xác nhận tình trạng không độc hại của hàng hoá gửi đi đảm bảo

an toàn cho người tiêu dùng.

Giấy chứng nhận này do cơ quan y tế cấp hoặc do cơ quan kiểm nghiệm

hàng hóa xuất – nhập khẩu cấp và thường sử dụng đối với hàng hoá thực phẩm

như bánh, kẹo, rượu bia, rau quả, hải sản đông lạnh.

4.3.5. Giấy chứng nhận kiểm dịch thực vật (Phytosanitary certificate):

Là chứng từ xác nhận hàng hoá có nguồn gốc từ thực vật đã được kiểm tra

xử lý như chống bệnh dịch, nấm độc…

SVTH:Nguyễn Châu Khánh Phương – Lớp 27K1.1

Trang 18

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *