Chứng minh và chứng cứ trong vụ án hình sự – Ánh sáng luật

Những vấn đề phải chứng minh trong vụ án hình sự

Khi tìm hiểu, truy tố và xét xử vụ án hình sự, cơ quan có thẩm quyền thực thi tố tụng phải chứng tỏ :
1. Có hành vi phạm tội xảy ra hay không, thời hạn, khu vực và những diễn biến khác của hành vi phạm tội ;
2. Ai là người thực hiện hành vi phạm tội ; có lỗi hay không có lỗi, do cố ý hay vô ý ; có năng lượng nghĩa vụ và trách nhiệm hình sự hay không ; mục tiêu, động cơ phạm tội ;

3. Những tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo và đặc điểm về nhân thân của bị can, bị cáo;

4. Tính chất và mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra ;
5. Nguyên nhân và điều kiện kèm theo phạm tội ;
6. Những diễn biến khác tương quan đến việc loại trừ nghĩa vụ và trách nhiệm hình sự, miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt .

Chứng cứ

Chứng cứ là những gì có thật, được tích lũy theo trình tự, thủ tục do Bộ luật Tố tụng hình sự pháp luật, được dùng làm địa thế căn cứ để xác lập có hay không có hành vi phạm tội, người thực hiện hành vi phạm tội và những diễn biến khác có ý nghĩa trong việc xử lý vụ án .

Thu thập chứng cứ

1. Để tích lũy chứng cứ, cơ quan có thẩm quyền thực thi tố tụng có quyền triển khai hoạt động giải trí tích lũy chứng cứ theo pháp luật của Bộ luật Tố tụng hình sự ; nhu yếu cơ quan, tổ chức triển khai, cá thể cung ứng chứng cứ, tài liệu, vật phẩm, tài liệu điện tử, trình diễn những diễn biến làm sáng tỏ vụ án .
2. Để tích lũy chứng cứ, người bào chữa có quyền gặp người mà mình bào chữa, bị hại, người làm chứng và những người khác biết về vụ án để hỏi, nghe họ trình diễn về những yếu tố tương quan đến vụ án ; đề xuất cơ quan, tổ chức triển khai, cá thể cung ứng tài liệu, vật phẩm, tài liệu điện tử tương quan đến việc bào chữa .
3. Những người tham gia tố tụng khác, cơ quan, tổ chức triển khai hoặc bất kể cá thể nào đều hoàn toàn có thể đưa ra chứng cứ, tài liệu, vật phẩm, tài liệu điện tử và trình diễn những yếu tố có tương quan đến vụ án .
4. Khi tiếp đón chứng cứ, tài liệu, vật phẩm, tài liệu điện tử tương quan đến vụ án do những người lao lý tại khoản 2 và khoản 3 Điều này cung ứng, cơ quan có thẩm quyền thực thi tố tụng phải lập biên bản giao nhận và kiểm tra, nhìn nhận theo pháp luật của Bộ luật Tố tụng hình sự .

5. Trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày lập biên bản về hoạt động điều tra, thu thập, nhận được tài liệu liên quan đến vụ án mà Kiểm sát viên không trực tiếp kiểm sát theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự thì Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra có trách nhiệm chuyển biên bản, tài liệu này cho Viện kiểm sát để kiểm sát việc lập hồ sơ vụ án. Trường hợp do trở ngại khách quan thì thời hạn này có thể kéo dài nhưng không quá 15 ngày. Trong thời hạn 03 ngày, Viện kiểm sát đóng dấu bút lục và sao lưu biên bản, tài liệu lưu hồ sơ kiểm sát và bàn giao nguyên trạng tài liệu, biên bản đó cho Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra.

Nguồn chứng cứ

1. Chứng cứ được tích lũy, xác lập từ những nguồn :
a ) Vật chứng ;
b ) Lời khai, lời trình diễn ;
c ) Dữ liệu điện tử ;
d ) Kết luận giám định, định giá gia tài ;
đ ) Biên bản trong hoạt động giải trí khởi tố, tìm hiểu, truy tố, xét xử, thi hành án ;
e ) Kết quả triển khai ủy thác tư pháp và hợp tác quốc tế khác ;

g) Các tài liệu, đồ vật khác.

2. Những gì có thật nhưng không được tích lũy theo trình tự, thủ tục do Bộ luật Tố tụng hình sự pháp luật thì không có giá trị pháp lý và không được dùng làm địa thế căn cứ để xử lý vụ án hình sự .

Kiểm tra, đánh giá chứng cứ

1. Mỗi chứng cứ phải được kiểm tra, nhìn nhận để xác lập tính hợp pháp, xác nhận và tương quan đến vụ án. Việc xác lập những chứng cứ tích lũy được phải bảo vệ đủ để xử lý vụ án hình sự .
2. Người có thẩm quyền thực thi tố tụng trong khoanh vùng phạm vi trách nhiệm, quyền hạn của mình phải kiểm tra, nhìn nhận vừa đủ, khách quan, tổng lực mọi chứng cứ đã tích lũy được về vụ án .

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *