Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng thông tin báo cáo tài chính của doanh nghiệp nhỏ và vừa tại tỉnh Bình Định

TCCTThS. Nguyễn Thị Thanh Trầm (Khoa Tài chính – Kế toán, Trường Đại học Nguyễn Tất Thành)

TÓM TẮT:

Nghiên cứu được thực hiện nhằm xác định các nhân tố và đo lường mức độ tác động của các nhân tố đến chất lượng thông tin báo cáo tài chính của doanh nghiệp nhỏ và vừa tại tỉnh Bình Định. Sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng, xử lý dữ liệu bằng phần mềm SPSS 22.0, kết quả nghiên cứu xác định các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng thông tin báo cáo tài chính của doanh nghiệp nhỏ và vừa tại tỉnh Bình Định gồm: môi trường pháp lý; hệ thống kiểm soát nội bộ; quy trình công tác kế toán; trình độ nhân viên kế toán; kiểm toán; công bố thông tin. Cuối cùng, nghiên cứu đề xuất các hàm ý chính sách nhằm cải thiện chất lượng thông tin báo cáo tài chính của các doanh nghiệp này trong thời gian tới.

Từ khóa: báo cáo tài chính, chất lượng thông tin báo cáo tài chính, doanh nghiệp nhỏ và vừa tỉnh Bình Định.

1. Đặt vấn đề

Các nghiên cứu và điều tra về chất lượng thông tin báo cáo tài chính, các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng thông tin báo cáo tài chính được nhiều tác giả chăm sóc, triển khai điều tra và nghiên cứu ( Datar và tập sự, 1991 ; Jonas và tập sự, 2000 ; Alshbiel và tập sự, 2011 ; Afiah và tập sự, năm trước ; Kewo và tập sự, 2017 ; … ). Qua đó, các nghiên cứu và điều tra góp thêm phần mạng lưới hệ thống cơ sở kim chỉ nan về chất lượng thông tin báo cáo tài chính, xác lập các nhân tố ảnh hưởng tác động và thống kê giám sát mức độ ảnh hưởng tác động của chúng đến chất lượng thông tin báo cáo tài chính của doanh nghiệp như thế nào .
Ngày 14/4/2009, Thủ tướng nhà nước đã ban hành Quyết định số 54/2009 / QĐ-TTg phê duyệt Quy hoạch toàn diện và tổng thể tăng trưởng kinh tế tài chính – xã hội tỉnh Tỉnh Bình Định đến năm 2020. Theo đó, Tỉnh Bình Định được xác lập sẽ trở thành tỉnh có nền công nghiệp tân tiến và là một trong những TT tăng trưởng về kinh tế tài chính – xã hội, góp phần tích cực vào sự tăng trưởng của vùng kinh tế tài chính trọng điểm miền Trung và cả nước. Qua lược khảo các điều tra và nghiên cứu trước, tác giả nhận thấy các nghiên cứu và điều tra về chất lượng thông tin báo cáo tài chính của doanh nghiệp hầu hết tập trung chuyên sâu vào nhóm đối tượng người dùng là các doanh nghiệp niêm yết trên đầu tư và chứng khoán, điều tra và nghiên cứu trường hợp ở các doanh nghiệp nhỏ và vừa tỉnh Tỉnh Bình Định thì ít có tác giả nào thực thi. Từ đó, việc bổ trợ thực thi các điều tra và nghiên cứu về chất lượng thông tin báo cáo tài chính của doanh nghiệp nhỏ và vừa tại tỉnh Tỉnh Bình Định, các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng thông tin báo cáo tài chính của doanh nghiệp nhỏ và vừa tại tỉnh Tỉnh Bình Định là thiết yếu. Đây cũng chính là khe hổng điều tra và nghiên cứu trong mảng đề tài về chất lượng thông tin báo cáo tài chính của doanh nghiệp .
Từ những nghiên cứu và phân tích trên, tác giả lựa chọn đề tài “ Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng thông tin báo cáo tài chính của doanh nghiệp nhỏ và vừa tại tỉnh Tỉnh Bình Định ” để thực thi nghiên cứu và điều tra. Qua nghiên cứu và điều tra, đề tài xác lập các nhân tố và giám sát mức độ tác động ảnh hưởng của chúng đến chất lượng thông tin báo cáo tài chính của doanh nghiệp nhỏ và vừa tại tỉnh Tỉnh Bình Định, từ đó có những đề xuất kiến nghị thích hợp nhằm mục đích nâng cao chất lượng thông tin báo cáo của các doanh nghiệp này .

2. Tổng quan nghiên cứu

* Cơ sở lý thuyết và mô hình đề xuất

Theo Hội đồng Chuẩn mực Kế toán Quốc tế ( IASB ) : báo cáo tài chính là mẫu sản phẩm của kế toán tài chính, phản ánh tình hình, tác dụng tài chính của doanh nghiệp, phân phối nhu yếu số đông của người sử dụng trong việc đưa ra các quyết định hành động kinh tế tài chính, nó cũng là tác dụng quản trị của ban giám đốc so với nguồn lực được phó thác cho họ .
Theo IASB và Ủy ban Chuẩn mực Kế toán Tài chính ( FASB ), các đặc thù chất lượng của thông tin tài chính hữu dụng được phân ra thành các đặc thù chất lượng cơ bản và các đặc thù chất lượng bổ trợ. Trong đó, các đặc thù chất lượng cơ bản gồm : thích hợp và trình diễn trung thực. Các đặc thù chất lượng bổ trợ gồm : hoàn toàn có thể so sánh ; hoàn toàn có thể kiểm chứng ; kịp thời và hoàn toàn có thể hiểu .
Qua lược khảo các điều tra và nghiên cứu trước, 1 số ít các nhân tố ảnh hưởng tác động đến chất lượng thông tin báo cáo tài chính của các doanh nghiệp như :

Môi trường pháp lý: Khung pháp lý liên quan đến kế toán bao gồm: Luật kế toán, chuẩn mực kế toán, chế độ kế toán và các nghị định, thông tư có liên quan. Môi trường pháp lý có tác động mạnh mẽ đến hệ thống kế toán và báo cáo tài chính tại các quốc gia. Doupnik and Salter (1992) đã nghiên cứu tác động của hệ thống pháp luật trên sự phát triển của hệ thống kế toán tại các quốc gia khác nhau và cho rằng sự khác biệt về hệ thống pháp luật của các nước khác nhau có thể giải thích sự khác biệt trong sự phát triển của hệ thống kế toán, từ đó ảnh hưởng đến báo cáo tài chính, chất lượng báo cáo tài chính. Từ đó, giả thuyết nghiên cứu được đề xuất như sau:

Giả thuyết H1 ( + ) : Môi trường pháp lý có ảnh hưởng tác động cùng chiều đến chất lượng thông tin báo cáo tài chính của doanh nghiệp nhỏ và vừa tại tỉnh Tỉnh Bình Định .

Hệ thống kiểm soát nội bộ: Theo Afiah và cộng sự (2014), kiểm soát nội bộ là một công cụ hữu hiệu trong việc kiểm tra, kiểm soát, ngăn ngừa và phát hiện gian lận, sai sót; để lập báo cáo tài chính trung thực, đảm bảo việc thực hiện các chế độ pháp lý, tuân thủ các luật lệ và quy định. Thông qua việc thực hiện các chức năng nói trên kiểm soát nội bộ một mặt góp phần đảm bảo chất lượng thông tin kế toán của doanh nghiệp. Theo Kewo và cộng sự (2017), thông tin kế toán được kiểm định bởi một hệ thống kiểm soát soát nội bộ hữu hiệu sẽ nhận được sự tin cậy nhiều hơn bởi các đối tượng bên trong và bên ngoài doanh nghiệp. Từ đó, giả thuyết nghiên cứu được đề xuất như sau:

Giả thuyết H2 ( + ) : Hệ thống trấn áp nội bộ có ảnh hưởng tác động cùng chiều đến chất lượng thông tin báo cáo tài chính của doanh nghiệp nhỏ và vừa tại tỉnh Tỉnh Bình Định .

Quy trình công tác kế toán: Theo Jonas, G. J., & Blanchet, J. (2000), báo cáo tài chính không chỉ là sản phẩm cuối cùng, đây là một quy trình bao gồm các thành phần như giao dịch, sự kiện, lựa chọn chính sách kế toán, áp dụng chính sách kế toán, ước tính, đánh giá liên quan, công bố về giao dịch, sự kiện, chính sách, ước tính, phán đoán, từ đó, chất lượng báo cáo tài chính phụ thuộc vào chất lượng của từng phần của quy trình này. Từ đó, giả thuyết nghiên cứu được đề xuất như sau:

Giả thuyết H3 ( + ) : Quy trình công tác làm việc kế toán có tác động ảnh hưởng cùng chiều đến chất lượng thông tin báo cáo tài chính của doanh nghiệp nhỏ và vừa tại tỉnh Tỉnh Bình Định .

Trình độ nhân viên kế toán: Kết quả nghiên cứu của ALshbiel và Al-Awaqleh (2011) tìm thấy mối quan hệ tích cực giữa trình độ nhân viên kế toán và chất lượng thông tin báo cáo tài chính, điều này được giải thích rằng nhân viên có trình độ, nhân viên được đào tạo để sử dụng hệ thống thông tin kế toán là một vấn đề quan trọng để thực hiện hệ thống thông tin kế toán thành công, từ đó cung cấp các thông tin kế toán nói chung và thông tin báo cáo tài chính nói riêng chất lượng hơn. Từ đó, giả thuyết nghiên cứu được đề xuất như sau:

Giả thuyết H4 ( + ) : Trình độ nhân viên cấp dưới kế toán có tác động ảnh hưởng cùng chiều đến chất lượng thông tin báo cáo tài chính của doanh nghiệp nhỏ và vừa tại tỉnh Tỉnh Bình Định .

Công bố thông tin: Michelon, G. (2011) dựa trên lý thuyết hợp pháp đã chứng minh rằng danh tiếng doanh nghiệp ảnh hưởng đến chất lượng thông tin báo cáo tài chính mà doanh nghiệp đó cung cấp. Michelon, G. (2011) xem xét khái niệm danh tiếng của doanh nghiệp thành ba khía cạnh để phân tích: cam kết với bên liên quan, hiệu quả tài chính, tiếp xúc với truyền thông. Michelon, G. (2011) cho rằng, doanh nghiệp có hiệu quả tài chính tốt có nhiều khả năng công bố thông tin nhiều hơn nhằm truyền đạt tính hợp pháp trong hoạt động của họ cho bên liên quan thông qua báo cáo tài chính hay báo cáo thường niên, từ đó khẳng định danh tiếng của họ. Thông qua công bố thông tin, đơn vị khẳng định uy tín của mình, doanh nghiệp có uy tín cao hơn ít làm sai lệch báo cáo tài chính của họ, bởi vì họ có thể chịu thiệt hại danh tiếng từ báo cáo tài chính kém chất lượng mà họ cung cấp do sự phủ sóng của truyền thông, sự giám sát của công chúng dành cho chất lượng thông tin mà đơn vị này cung cấp. Từ đó, giả thuyết nghiên cứu được đề xuất như sau:

Giả thuyết H5 ( + ) : Công bố thông tin có tác động ảnh hưởng cùng chiều đến chất lượng thông tin báo cáo tài chính của doanh nghiệp nhỏ và vừa tại tỉnh Tỉnh Bình Định .

Kiểm toán: Lý thuyết tín hiệu cho thấy rằng lựa chọn của doanh nghiệp kiểm toán độc lập có thể coi như là một giấy chứng nhận cho chất lượng thông tin kế toán trên báo cáo tài chính của các doanh nghiệp. Các doanh nghiệp có quy mô lớn hơn có nhiều khả năng lựa chọn một doanh nghiệp kiểm toán lớn hơn, bởi vì nó là một tín hiệu tốt cho các nhà đầu tư. Sự lựa chọn của doanh nghiệp kiểm toán được coi như là một tín hiệu của giá trị doanh nghiệp. Sự hiện diện của Big4 được xem như là một chất lượng tín hiệu của việc công bô thông tin kế toán của doanh nghiệp (Datar, Feltham và Hughes, 1991). Từ đó, giả thuyết nghiên cứu được đề xuất như sau:

Giả thuyết H6 ( + ) : Kiểm toán có ảnh hưởng tác động cùng chiều đến chất lượng thông tin báo cáo tài chính của doanh nghiệp nhỏ và vừa tại tỉnh Tỉnh Bình Định .

3. Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phối hợp giải pháp nghiên cứu và điều tra định tính và điều tra và nghiên cứu định lượng. Với giải pháp điều tra và nghiên cứu định tính, trải qua nghiên cứu và điều tra tài liệu triết lý có tương quan đến đề tài, tác giả đề xuất kiến nghị quy mô nghiên cứu và điều tra và thang đo nghiên cứu và điều tra cho các biến trong quy mô điều tra và nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng thông tin báo cáo tài chính của doanh nghiệp nhỏ và vừa tại tỉnh Tỉnh Bình Định. Bằng chiêu thức nghiên cứu và điều tra định tính, trải qua khảo sát chuyên viên, tác giả xác lập quy mô điều tra và nghiên cứu và thang đo nghiên cứu và điều tra chính thức của đề tài. Với giải pháp nghiên cứu và điều tra định lượng, tài liệu sơ cấp được tích lũy bằng bảng câu hỏi khảo sát, sau đó tài liệu được giải quyết và xử lý bởi ứng dụng SPSS 22.0 với các kỹ thuật gồm thống kê diễn đạt các biến ; kiểm định độ an toàn và đáng tin cậy thang đo với thông số Cronbach’s alpha ; nghiên cứu và phân tích nhân tố mày mò EFA ; và kiểm định quy mô hồi quy bội nhằm mục đích xác lập các nhân tố và mức độ tác động ảnh hưởng của các nhân tố đến chất lượng thông tin báo cáo tài chính của doanh nghiệp nhỏ và vừa tại tỉnh Tỉnh Bình Định .
Phương pháp chọn mẫu : Mẫu được chọn theo giải pháp chọn mẫu ngẫu nhiên, đó là các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại tỉnh Tỉnh Bình Định. Theo Tabachnick và tập sự ( 1996 ) triển khai nghiên cứu và phân tích hồi quy đạt được tác dụng tốt nhất khi cỡ mẫu phải thỏa mãn nhu cầu điều kiện kèm theo : n > = 8 p + 50 ( n : là cỡ mẫu thiết yếu, p : số biến độc lập của quy mô ). Ở điều tra và nghiên cứu này, quy mô được thiết kế xây dựng với 6 biến độc lập nên cỡ mẫu tối thiểu phải là 98 quan sát. Tiếp đó, theo Hair và tập sự ( 1998 ), số mẫu quan sát trong nghiên cứu và phân tích nhân tố phải > 100 quan sát và có tỷ suất so với biến tốt nhất trong khoảng chừng tỷ suất 5/1 – 10/1. Trong điều tra và nghiên cứu này, số biến là 35, do đó cỡ mẫu tối thiểu cần đạt là 175 quan sát ( 35 * 5 ) .
Tác giả đề xuất kiến nghị quy mô điều tra và nghiên cứu ảnh hưởng của các nhân tố đến chất lượng thông tin báo cáo tài chính của doanh nghiệp nhỏ và vừa tại tỉnh Tỉnh Bình Định như sau :

CLTT = β0 + β1MTPL + β2HTKSNB + β3QTKT + β4NVKT + β5CBTT +β6KIT

Trong đó :
– MTPL : Môi trường pháp lý
– HTKSNB : Hệ thống trấn áp nội bộ

– QTKT: Quy trình công tác kế toán

– NVKT : Trình độ nhân viên cấp dưới kế toán
– CBTT : Công bố thông tin
– KIT : Kiểm toán
– β0, β1, … β6 : Hệ số hồi quy của quy mô
– ε : Hệ số nhiễu .

4. Kết quả nghiên cứu và bàn luận

Sau khi triển khai kiểm định độ đáng tin cậy thang đo với thông số Cronbach’s Alpha, nghiên cứu và phân tích nhân tố tò mò EFA cho biến độc lập và biến phụ thuộc vào, tác giả nhìn nhận mức độ tương thích của quy mô hồi quy tuyến tính như sau : ( Bảng 1 )

Bảng 1. Kiểm tra độ phù hợp của mô hình

Nguyễn Thị Thanh TrầmNguồn: Kết quả phân tích dữ liệu của tác giả

Kết quả Bảng 1 cho thấy quy mô có độ tương thích đạt nhu yếu ( R2 = 0.545 > 0.5 ). Hệ số R2 hiệu chỉnh trong quy mô này là 0.532, nghĩa là quy mô hồi quy tuyến tính đã kiến thiết xây dựng tương thích với tập dữ liệu đến mức 53.2 %, điều này cũng có nghĩa là các biến độc lập lý giải được 53.2 % biến thiên của biến phụ thuộc vào. ( Bảng 2 )

Bảng 2. Bảng kết quả hồi quy

Nguyễn Thị Thanh TrầmNguồn: Kết quả phân tích dữ liệu của tác giả

Kết quả Bảng 2 cho thấy thông số Sig của 6 nhân tố độc lập : thiên nhiên và môi trường pháp lý ; mạng lưới hệ thống trấn áp nội bộ ; quá trình công tác làm việc kế toán ; trình độ nhân viên cấp dưới kế toán ; công bố thông tin ; truy thuế kiểm toán đều < 5 % và thông số phóng đại phương sai VIF rất thấp ( < 2 ), điều này chứng tỏ hiện tượng kỳ lạ đa cộng tuyến không xảy ra với các biến độc lập . Phương trình hồi quy :

CLTT =  0.182MTPL + 0.134HTKSNB + 0.185QTKT + 0.257NVKT + 0.219CBTT +0.245KIT

Để so sánh mức độ ảnh hưởng từng nhân tố độc lập so với biến độc lập, tác giả địa thế căn cứ vào thông số Beta chuẩn hóa. Kết quả số liệu trên cho thấy trong các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng thông tin báo cáo tài chính của doanh nghiệp nhỏ và vừa tại tỉnh Tỉnh Bình Định thì nhân tố trình độ nhân viên cấp dưới kế toán có ảnh hưởng mạnh nhất với mức ảnh hưởng là β = 0.257 và nhân tố mạng lưới hệ thống trấn áp nội bộ có ảnh hưởng yếu nhất với mức ảnh hưởng là β = 0.134 .

5. Kết luận và hàm ý chính sách

Qua nghiên cứu và điều tra, bằng chiêu thức điều tra và nghiên cứu định tính và định lượng, tác dụng nghiên cứu và điều tra xác lập các nhân tố tác động ảnh hưởng và mức độ ảnh hưởng tác động xếp theo thứ tự tăng dần của chúng đến chất lượng thông tin báo cáo tài chính của các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại tỉnh Tỉnh Bình Định như sau : mạng lưới hệ thống trấn áp nội bộ ; thiên nhiên và môi trường pháp lý ; tiến trình công tác làm việc kế toán ; công bố thông tin ; truy thuế kiểm toán ; trình độ nhân viên cấp dưới kế toán. Từ hiệu quả nghiên cứu và điều tra, tác giả đề xuất kiến nghị các hàm ý chủ trương tương quan đến các nhân tố này như sau :
Đối với mạng lưới hệ thống trấn áp nội bộ, các nhà quản trị cần quản lý và điều hành hoạt động giải trí của mạng lưới hệ thống trấn áp nội bộ theo hướng tương thích với tiềm năng hoạt động giải trí doanh nghiệp đã đề ra, có các giải pháp thích hợp để giám sát, kiểm soát và điều chỉnh hoạt động giải trí của mạng lưới hệ thống này. Xây dựng các lao lý ngặt nghèo về kiểm tra chéo giữa các các bộ phận trong doanh nghiệp tránh gian lận thông tin .
Môi trường pháp lý là nền tảng cho việc ghi chép, lập báo cáo tài chính cho các doanh nghiệp, các chủ trương thuế và chuẩn mực kế toán chi phối tới việc lập báo cáo tài chính của các doanh nghiệp, do đó, tác giả yêu cầu cơ quan thuế cần có sự kiểm soát và điều chỉnh để có sự hòa hợp giữa pháp luật của thuế và chuẩn mực kế toán, tạo thuận tiện cho các doanh nghiệp trong việc lập báo cáo .
Đối với quá trình công tác làm việc kế toán, cần triển khai xong mạng lưới hệ thống chứng từ kế toán tại đơn vị chức năng cần phải được thực thi, khắc phục thiếu sót, sống sót ngay trong quy trình tổ chức triển khai mạng lưới hệ thống chứng từ kế toán theo đúng pháp luật hiện hành của Nhà nước. Tổ chức sử dụng chứng từ kế toán bảo vệ đúng, đủ, tương thích, làm cơ sở cho việc hạch toán. Tổ chức triển khai xong chứng từ kế toán là khâu quan trọng, quyết định hành động đến thông tin kế toán. Xây dựng mạng lưới hệ thống chứng từ đơn thuần, rõ ràng, tương thích với pháp luật của chính sách kế toán, chỉ tiêu phản ánh trong chứng từ phải biểu lộ đươc nhu yếu quản trị nội bộ .
Đối với truy thuế kiểm toán, tác giả yêu cầu kiểm toán viên phải tuân thủ đúng quá trình truy thuế kiểm toán, nỗ lực tu dưỡng kỹ năng và kiến thức nâng cao và học hỏi các kiến thức và kỹ năng thiết yếu, có như vậy chất lượng thông tin trên báo cáo tài chính mới được bảo vệ. Các doanh nghiệp truy thuế kiểm toán cần quản trị về thời hạn tham gia truy thuế kiểm toán tại một đơn vị chức năng so với một kiểm toán viên, để tránh đem lại rủi ro đáng tiếc cho cả doanh nghiệp được truy thuế kiểm toán và doanh nghiệp truy thuế kiểm toán .
Đối với công bố thông tin, tác giả yêu cầu cần cụ thể hóa các lao lý về nhu yếu công bố thông tin doanh nghiệp để doanh nghiệp hiểu rõ đồng thời thực thi đúng, rất đầy đủ, kịp thời những pháp luật về công bố thông tin ; tạo ra khung pháp lý chung, thống nhất về việc công bố thông tin hoạt động giải trí của doanh nghiệp .
Kết quả điều tra và nghiên cứu cho thấy trình độ nhân viên cấp dưới kế toán có ảnh hưởng tích cực đến chất lượng thông tin trên báo cáo tài chính của các doanh nghiệp. Về nhân tố này, tác giả yêu cầu công tác làm việc tổ chức triển khai tuyển dụng phải công khai minh bạch, minh bạch, theo đúng quy trình tiến độ tuyển dụng. Bên cạnh đó, nhân viên cấp dưới được tuyển dụng phải có đủ năng lực tương thích với từng vị trí dự tuyển như về trình độ nhiệm vụ, phẩm chất đạo đức nghề nghiệp trung thực, cẩn trọng, nhiệt tình, … nhằm mục đích hạn chế rủi ro đáng tiếc xảy ra cho doanh nghiệp sau này. Nhân viên kế toán cần không ngừng tự nâng cao trình độ trình độ trải qua việc huấn luyện và đào tạo, update kiến thức và kỹ năng liên tục .

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

  1. IASB (International Accounting Standards Board). (2011). Preface to International Financial Reporting Standards. London: IFRSF.
  2. Afiah, N. N., & Rahmatika, D. N. (2014). Factors influencing the quality of financial reporting and its implications on good government governance. International Journal of Business, Economics and Law, 5(1), 111-121
  3. Alshbiel, S. O., & Al-Awaqleh, Q. A. (2011). Factors affecting the applicability of the computerized accounting system. International Research Journal of Finance and Economics, 64, 36-53.
  4. Datar, S. M., Feltham, G. A., & Hughes, J. S. (1991). The role of audits and audit quality in valuing new issues. Journal of accounting and Economics, 14(1), 3-49.
  5. Hair, J. F., Black, W. C., Babin, B. J., Anderson, R. E., & Tatham, R. L. (1998). Multivariate data analysis 5(3), 207-219.
  6. Jonas, G. J., & Blanchet, J. (2000). Assessing quality of financial reporting. Accounting horizons, 14(3), 353-363.
  7. Kewo, C. L., & Afiah, N. N. (2017). Does quality of financial statement affected by internal control system and internal audit? International Journal of Economics and Financial Issues, 7(2), 568.
  8. Michelon, G. (2011). Sustainability disclosure and reputation: A comparative study. Corporate Reputation Review, 14(2), 79-96.
  9. Salter, S. B., & Doupnik, T. S. (1992). The relationship between legal systems and accounting practices: A classification exercise. Advances in International Accounting, 5(1), 3-22.
  10. Tabachnick, B. G., & Fidell, L. S. (1996). Analysis of covariance. Using multivariate statistics, 8(1), 321-374.

FACTORS AFFECTING THE QUALITY OF FINANCIAL STATEMENTS OF SMES IN BINH DINH PROVINCE

Master. Nguyen Thi Thanh Tram

Faculty of Finance Accounting, Nguyen Tat Thanh University

Abstract:

The study is to identify the factors and measure the impact of these factors on the quality of financial statements of small and medium-sized enterprises ( SMEs ) in Binh Dinh Province. By using qualitative and quantitative research methods, and the SPSS Statistics 22.0, the study finds out that there are 6 factors affecting the quality of financial statements of SMEs in Binh Dinh Province. Thes e factors are legal environment, internal control system, accounting process, competencies of accountant, auditing, and information disclosure. The study also proposes some policy implications to improve the quality of financial statements of SMEs in Binh Dinh Province in the coming time .

Keywords: financial statements, quality of financial statements, small and medium-sized enterprises in Binh Dinh Province.

[Tạp chí Công Thương – Các kết quả nghiên cứu khoa học và ứng dụng công nghệ, Số 21, tháng 9 năm 2021]

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *