Phạm Văn Đồng – Wikipedia tiếng Việt

Phạm Văn Đồng (1 tháng 3 năm 1906 – 29 tháng 4 năm 2000), bí danh Anh Tô, là Thủ tướng đầu tiên của nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam từ năm 1976 (từ năm 1981 gọi là Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng) cho đến khi nghỉ hưu năm 1987. Trước đó ông từng giữ chức vụ Thủ tướng Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa từ năm 1955 đến năm 1976.

Phạm Văn Đồng là vị Thủ tướng Việt Nam tại vị lâu nhất (1955 – 1987) và là học trò, cộng sự thân thiết của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ông có tên gọi thân mật là ,[2][3][4] đây từng là bí danh của ông.[5][6][7] Ông còn có tên gọi là Lâm Bá Kiệt khi làm Phó chủ nhiệm cơ quan Biện sự xứ tại Quế Lâm (chủ nhiệm là Hồ Học Lãm).

Phạm Văn Đồng sinh ngày 1 tháng 3 năm 1906 trong một mái ấm gia đình tri thức ở Đức Tân, Mộ Đức, Tỉnh Quảng Ngãi. Từ nhỏ, ông được tiếp thu truyền thống lịch sử văn hóa truyền thống của quê nhà và mái ấm gia đình, trau dồi kiến thức và kỹ năng về lịch sử vẻ vang, văn hóa truyền thống của dân tộc bản địa và trái đất. Ông theo học trường Quốc học Huế và sớm phát huy năng khiếu sở trường học tiếng Pháp ; nhờ đó mà ông hoàn toàn có thể chớp lấy nền tảng văn học-triết học Pháp nói riêng và phương Tây nói chung .

Năm 1925, ông tham gia phong trào bãi khóa của học sinh, sinh viên khi Phan Châu Trinh mất. Một năm sau (1926), ông sang Quảng Châu dự lớp huấn luyện cách mạng do Hồ Chí Minh tổ chức rồi gia nhập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên. Năm 1929, ông được cử vào Kỳ bộ Nam Kỳ, rồi vào Tổng bộ Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội và tham gia đại hội của tổ chức này họp ở Hồng Kông. Tháng 7/1929, thực dân Pháp bắt ông và kết án đi đầy 10 năm tù ở Côn Đảo.

Năm 1936, sau khi ra tù, Phạm Văn Đồng hoạt động giải trí ở Thành Phố Hà Nội. Năm 1940, ông bí hiểm sang Trung Quốc cùng với Võ Nguyên Giáp, gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương và được Nguyễn Ái Quốc giao trách nhiệm về nước kiến thiết xây dựng căn cứ địa gần biên giới Việt – Trung .Năm 1945, tại Quốc dân Đại hội Tân Trào, Phạm Văn Đồng được bầu vào Ủy ban Thường trực gồm 5 người thuộc Ủy ban Dân tộc giải phóng, chuẩn bị sẵn sàng cho Cách mạng tháng 8 .

Tham gia chính phủ[sửa|sửa mã nguồn]

Trước khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được xây dựng, ngày 16/8/1945, Phạm Văn Đồng giữ chức Bộ trưởng Tài chính. Tuy nhiên, dấu ấn điển hình nổi bật của ông là trong nghành ngoại giao .Ngày 2 tháng 3 năm 1946 tại TP.HN, ông được bầu làm Phó Trưởng ban Thường vụ Quốc hội ( khóa I ) .
Ngày 31 tháng 5 năm 1946, Phạm Văn Đồng là Trưởng phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại Hội nghị Fontainebleau ( Pháp ) [ 8 ] thay cho Nguyễn Tường Tam không nhận trách nhiệm, nhằm mục đích tìm một giải pháp độc lập cho Đông Dương. Tuy nhiên, hội nghị thất bại do Pháp không vấn đáp dứt khoát về việc ấn định thời hạn thực thi cuộc trưng cầu dân ý ở Nam Kỳ .Khi Chiến tranh Đông Dương bùng nổ, ông được cử làm Đặc phái viên của Trung ương Đảng và nhà nước tại Nam Trung Bộ. Năm 1947 ông được bầu làm Ủy viên dự khuyết Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương ( Uỷ viên chính thức từ năm 1949 ). Từ tháng 7 năm 1949, ông được cử làm Phó Thủ tướng duy nhất .Tại Đại hội Đảng Cộng sản Đông Dương / Đảng Lao động Nước Ta lần thứ hai năm 1951, Phạm Văn Đồng trở thành ủy viên Bộ Chính trị Trung ương Đảng .Năm 1954, ông là trưởng phái đoàn nhà nước dự Hội nghị Genève về Đông Dương. Những góp phần của đoàn Nước Ta do ông đứng đầu tạo ra những nâng tầm đưa hội nghị để giành độc lập cho bán đảo Đông Dương. Trải qua 8 cuộc họp toàn thể và 23 phiên họp stress, phức tạp, với ý thức dữ thế chủ động và nỗ lực của phái đoàn Nước Ta, thì đến ngày 20/7/1954, bản Hiệp định đình chỉ chiến sự trên bán đảo Đông Dương đã được ký kết thừa nhận tôn trọng độc lập, chủ quyền lãnh thổ của những nước Nước Ta, Lào và Campuchia .Tháng 9/1954, Phạm Văn Đồng kiêm chức Bộ trưởng Ngoại giao nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Trưởng ban Đối ngoại Trung ương Đảng. Từ tháng 9 năm 1955, ông trở thành thủ tướng nhà nước của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Từ năm 1976, ông là thủ tướng của Cộng Hòa Xã Hội Chủ nghĩa Nước Ta ( thống nhất ), phó chủ tịch Hội đồng Quốc phòng cho đến khi về hưu năm 1987. Ông cũng liên tục làm đại biểu Quốc hội từ năm 1946 đến năm 1987 .Trong thời hạn làm thủ tướng cơ quan chính phủ, Phạm Văn Đồng và Nguyễn Văn Linh đã giải oan cho đạo diễn Trần Văn Thủy trong sự kiện về bộ phim tài liệu TP. Hà Nội trong mắt ai. [ 9 ]Tại Đại hội Đảng lần thứ V đã bầu Phạm Văn Đồng vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng và Uỷ viên Bộ Chính trị. [ 10 ]

Hoạt động sau khi nghỉ hưu[sửa|sửa mã nguồn]

Phạm Văn Đồng là Cố vấn Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam từ tháng 12 năm 1986 đến 1997. Ông cùng Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh và Thủ tướng Đỗ Mười đã tham gia cuộc gặp không chính thức với chỉ huy Trung Quốc tại Thủ Đô tháng 9 năm 1990 nhằm mục đích thông thường hóa mối quan hệ giữa hai nước sau hơn 10 năm căng thẳng mệt mỏi và xung đột .Ngày 21 tháng 8 năm 1998, thủ tướng Phan Văn Khải ký quyết định hành động số 746 / QĐ – TTg chỉ định ông làm quản trị danh dự Hội đồng Quốc gia Chỉ đạo Biên soạn Từ điển bách khoa Nước TaÔng đã được tặng thưởng Huân chương Sao Vàng của Nước Ta và nhiều huân chương khác của Liên Xô, Lào, Campuchia, Cuba, Bulgaria, Ba Lan và Mông Cổ .Từ đầu thập niên 80 thế kỷ XX, do bị teo dây thần kinh đáy mắt nên mắt ông khởi đầu mờ dần. [ 11 ]

Phạm Văn Đồng mất tại Hà Nội ngày 29 tháng 4 năm 2000, hưởng thọ 94 tuổi. Lễ quốc tang được tổ chức trong 2 ngày từ ngày 5 đến ngày 6 tháng 5 năm 2000. Sau đó, ông được an táng tại Nghĩa trang Mai Dịch. Lễ truy điệu và an táng ông Phạm Văn Đồng được tường thuật trực tiếp trên các kênh hòa sóng của VTV.

Mẹ của Phạm Văn Đồng là cụ Nguyễn Thị Tuân. [ 12 ]Phạm Văn Đồng có vợ là bà Phạm Thị Cúc ( sinh năm 1922, kém ông 16 tuổi ) [ 13 ], sinh được một người con trai duy nhất là Phạm Sơn Dương ( sinh năm 1951 ) [ 14 ], hiện là thiếu tướng Quân đội nhân dân Nước Ta, phó giám đốc Viện Khoa học và Công nghệ Quân sự [ 15 ] [ 16 ] [ 17 ]. Sau khi lấy bà Cúc ( tháng 10 năm 1946 ) Phạm Văn Đồng vào công tác làm việc trong Liên khu V. Mấy năm sau, bà Cúc được phép vào Nam sống với chồng. Vào đến nơi thì Phạm Văn Đồng lại được lệnh ra Bắc. Sau đó bà Cúc bị bệnh ” nửa quên nửa nhớ ” ( theo lời của Việt Phương, người từng làm thư ký cho Phạm Văn Đồng trong 53 năm ) lê dài cho đến tận giờ đây. Phạm Văn Đồng từng đưa bà Cúc sang Trung Quốc, Liên Xô chữa bệnh nhưng vẫn không khỏi. Phạm Văn Đồng mất trước bà Phạm Thị Cúc. [ 18 ] [ 19 ] Bà Phạm Thị Cúc mất lúc 10 giờ 45 phút sáng ngày 15 tháng 10 năm 2018, hưởng thọ 96 tuổi. [ 20 ]Phạm Sơn Dương có vợ là Minh Châu và hai người con : con trai Quốc Hoa, con gái Quốc Hương. Tên của Quốc Hoa và Quốc Hương là do Phạm Văn Đồng đặt, ý là ” hoa, hương của quốc gia “. [ 21 ] Với bề dày hơn 70 năm hoạt động giải trí trong sự nghiệp Cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam, trong đó nhiều năm giữ những cương vị chỉ huy chủ chốt, Phạm Văn Đồng được nhiều nhà chỉ huy của Đảng Cộng sản và học giả trong nước, những người thân mật với ông nhìn nhận là có nhiều góp phần quan trọng trên nhiều nghành .

Cựu Thủ tướng Võ Văn Kiệt nhận xét về ông “tác phong giản dị mà lịch thiệp“, “lối sống đạm bạc mà văn hóa” “rất mực ôn hòa” “hết mức bình dị” và “Năm trước, ở bài viết trong cuốn sách kỷ niệm về anh Sáu Thọ, tôi có nhắc tới biệt danh “Sáu Búa” thể hiện tính quyết đoán cao và sự thẳng thắn trong đấu tranh nội bộ của anh Sáu. Với Anh Tô, tôi thấy dường như Anh là sự bù trừ cho anh Sáu và một số anh khác.”..

Đàm phán ở Genève năm 1954[sửa|sửa mã nguồn]

Ông Việt Phương, nguyên thư ký của Thủ tướng Phạm Văn Đồng, trong buổi họp báo trình làng sách của những nhà ngoại giao, đã bật mý rằng khi đàm phán hiệp định Genève ( 1954 ), do đoàn Nước Ta không có điện đài nên Bộ trưởng Ngoại giao lúc đó là Phạm Văn Đồng đã mắc một sai lầm đáng tiếc khi nhờ Trung Quốc chuyển những bức điện về nước, do vậy Trung Quốc biết hết những sách lược của Nước Ta và sử dụng chúng để ép Nước Ta ký hiệp định theo quyền lợi của Trung Quốc. Trong đàm phán Phạm Văn Đồng sử dụng phiên dịch Trung Quốc nên nội dung liên lạc giữa đoàn đàm phán và Trung ương, Trung Quốc đều biết trước và tìm cách ngăn ngừa. Phạm Văn Đồng sau này cũng thừa nhận là đoàn Nước Ta khi đó quá tin đoàn Trung Quốc. Tại hội nghị ấy, Phạm Văn Đồng chỉ hầu hết tiếp xúc với đoàn Liên Xô và đoàn Trung Quốc, trong khi Anh là đồng quản trị, quan điểm lại khác với Pháp, nhưng ông lại không tranh thủ, không hề tiếp xúc với phái đoàn Anh. [ 22 ]

Văn kiện gây tranh cãi 1958[sửa|sửa mã nguồn]

nhà nước Trung Quốc ra Tuyên bố về lãnh hải 12 hải lý ngày 4 tháng 9 năm 1958 [ 23 ]. Phạm Văn Đồng sau đó đã viết một Công hàm gửi cho Thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai vào ngày 14 tháng 9 năm 1958 [ 23 ] và sau đó cho đăng trên báo Nhân dân ngày 22 tháng 9 năm 1958, trong đó có đoạn :
Năm 1958, Công hàm của Thủ tướng Nước Ta dân chủ cộng hòa Phạm Văn Đồng gửi cho thủ tướng Cộng hòa Nhân dân Nước Trung Hoa Chu Ân Lai

Thủ tướng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa: Phạm Văn Đồng gửi thứ trưởng Bộ Ngoại giao Trung Quốc, ghi nhận và tán thành bản tuyên bố ngày 4 tháng 9 năm 1958 của chính phủ Trung Quốc về hải phận.

Theo quan điểm của Trung Quốc (tài liệu Bộ Ngoại giao), công hàm của Thủ tướng nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà Phạm Văn Đồng đương nhiên “công nhận” chủ quyền của Trung Quốc đối với các quần đảo trên biển Đông vì trước đó trong số báo ngày 6 tháng 9 báo Nhân dân “đã đăng chi tiết về Tuyên bố Lãnh hải của chính phủ Trung Quốc trong đó đường cơ sở để tính lãnh hải bao gồm bờ biển hai quần đảo Tây Sa và Nam Sa trên biển Đông”[23]. Các tài liệu công bố công khai cho công chúng Trung Quốc bản dịch tiếng Trung đều không dịch đầy đủ nội dung của văn kiện này, thiếu một số nội dung trong đó có đoạn “triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung Quốc”.[cần dẫn nguồn]

Theo Tuyên bố của Bộ Ngoại giao nước Cộng hòa XHCN Nước Ta về quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa ngày 7 tháng 8 năm 1979 thì : Sự diễn giải của Trung quốc về bản công hàm ngày 14 tháng 9 năm 1958 của Thủ tướng nước Việt Nam Dân chủ Cộng Hoà như một sự công nhận chủ quyền lãnh thổ của phía Trung quốc trên những quần đảo là một sự xuyên tạc trắng trợn khi ý thức và ý nghĩa của bản công hàm chỉ có dự tính công nhận số lượng giới hạn 12 hải lý của lãnh hải Trung quốc. [ 24 ] [ 25 ] ( Tức là khoảng chừng 22 km, mà không cho biết đường cơ sở để tính chủ quyền lãnh thổ 12 hải lý có gồm có đường bờ biển hai quần đảo đó hay không ). Văn bản này không đề cập đến hai quần đảo mà chỉ đề cập đến cơ sở khoảng cách trên biển mà Trung Quốc dùng để tính hải phận. Nước Ta khẳng định chắc chắn lại chủ quyền lãnh thổ so với 2 quần đảo này, nhắc lại lập trường của Nước Ta về việc xử lý sự tranh chấp về 2 quần đảo giữa hai nước bằng thương lượng hoà bình. [ 26 ]

Hình ảnh công cộng[sửa|sửa mã nguồn]

Hiện nay ở thủ đô hà nội Thành Phố Hà Nội, tên Phạm Văn Đồng được đặt cho đoạn đường nối từ ngã tư Xuân Thủy – Phạm Hùng – Hồ Tùng Mậu đến cầu Thăng Long mở màn cho tuyến đường dẫn từ nội thành của thành phố Thành Phố Hà Nội tới trường bay quốc tế Nội Bài. Ngoài ra tại Nước Ta, tên ông còn được đặt cho nhiều tuyến đường lớn ở TP. Đà Nẵng, Đồng Hới, Nha Trang, Hải Phòng Đất Cảng, thành phố Hồ Chí Minh, … Tại Tỉnh Quảng Ngãi có một trường ĐH mang tên ông, dựa trên cơ sở tăng cấp trường Cao đẳng Sư phạm Tỉnh Quảng Ngãi và Trường Cao đẳng hội đồng Tỉnh Quảng Ngãi .

Liên kết ngoài[sửa|sửa mã nguồn]

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *